DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM  

image

image
image



THÁNH CLÊMENTÊ HOFBAUER DCCT
MẪU GƯƠNG VỀ HỢP TÁC GIÁO DÂN




Năm 1960, Đức Gioan XXIII thiết lập Ủy ban Giáo hoàng về hoạt động tông đồ giáo dân. Và sau 200 lần hội họp, Ủy ban còn có 29 vị cố vấn, mà 14 vị cũng là Giám mục. Ngoài ra, các đại diện của 26 quốc gia và của nhiều tổ chức quốc tế cũng đến tham dự. Và Với Cộng đồng Vatican II, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một Cộng đồng Chung đã quan tâm đặc biệt tới vấn đề tông đồ của giáo dân, cũng như đã dành nhiều nỗ lực cho sự xác định lại sứ mệnh của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới. Nhưng điều đó không có nghĩa là Giáo hội chưa bao giờ ý thức sự hiện diện mật thiết của giáo dân trong Giáo hội. Bởi Giáo hội được thiết lập vì các tín hữu là con cái mình, và ngay từ ban đầu thời Giáo hội sơ khai, giáo dân không những là đối tượng cho hoạt động của các tông đồ, mà còn là những cộng tác viên đắc lực của các ngài.

Đối với các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, Thánh Clêmentê Hofbauer (1751- 1820) chính là mẫu gương về việc hợp tác với giáo dân mà các tu sĩ DCCT hôm nay có thể noi theo. Theo lịch sử của Dòng, Ngài là vị tiên phong trong việc cộng tác với giáo dân ngay từ khi nhà Dòng mới được thành lập và đang ở những giai đoàn đầu phát triển tại Châu âu. Nhưng Clêmentê là ai? Theodule Rey – Mermet, một linh mục DCCT và là một nhà thần học nổi tiếng đã viết lời tựa cho cuốn “Clêmemtê Maria Hofbauer, rao giảng tin mừng theo cách thức mới” như sau : “ Thánh Clêmêntê – Maria Hofbauer là người Đức theo nghĩa ngài thuộc về một dòng tộc lớn ở Đức, dòng họ Habsbourg. Nhưng ngài lại sinh ra tại Moravie, vương quốc Bôhême, nay là Cộng Hoà Sec. Tên thật của Ngài là Dvorăk và người ta dịch ra tiếng Đức là Hofbauer. Là người con thứ chín trong gia đình có 12 người con, Clêmentê đã sớm mồ côi cha khi cậu mới 6 tuổi. Dường như trong suốt nửa đầu cuộc đời, ngài là một người nay đây mai đó. Không phải do tính ngông cuồng của con người lêu lổng, nhưng bởi vì cậu cương quyết theo đuổi ơn gọi làm linh mục trong khi sự túng quẫn và những luật lệ quái ác lại cứ luôn là rào cản ở mọi nơi. Lần lượt, lúc thì cậu làm bánh mì, là học sinh, lúc lại nhà ẩn tu ở Moravie, ba lần đi bộ hành hương đến Rôma, rồi lại nhà bánh mì, là sinh viên khoa giáo lý ở Vienne, là nhà ẩn tu ở Tivoli gần Rôma, là sinh viên thần học ở Vienne và sau cùng là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế và làm linh mục. Lãnh sứ vụ linh mục năm 34 tuổi, Ngài còn 34 năm nữa để thực hiện Giấc mơ nồng nhiệt của mình: làm những việc lớn lao cho Thiên Chúa”. Cha Clêmentê đã qua đời năm 1820. Năm 1888 ngài được ĐTC Léon XIII phong chân phước; năm 1909, được Đức Piô X phong thánh, và năm 1914 được tôn làm bổn mạng thành Vienne.

Clêmentê Hofbauer không bao giờ quên sự thúc bách của Tin Mừng, của “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít...” (Lc 10, 2) để tiếp tục lên đường, "không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...” (Lc 10, 4), cha chỉ một lòng thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa để đưa DCCT vượt ra khỏi dãy núi Alpes của vương quốc Napoli để đến các nước miền Âu Châu như Ba Lan, Tiệp Khắc, rồi qua Áo, Thụy Sĩ..., và cứ thế mà lan tỏa đi khắp thế giới, đến miền Bắc Mỹ để rồi từ Canada, DCCT sẽ đặt chân đến Việt Nam năm 1925 mà có được Tỉnh DCCT Việt Nam như ngày nay. Cha Clemêntê “con người tông đồ thực sự” là trái tim là sức mạnh ở Saint – Bennon, nhưng nếu chỉ có một mình, chắc chắn Cha không thể thực hiện trọn vẹn công việc to lớn này. Cha có nhiều cộng sự đầy khả năng.

Việc truyền giáo của Cha Hofbauer hoàn toàn được đặt ra với mục đích là hoán cải con người, đào sâu đức tin và cải cách Giáo Hội. Ngài đã vạch ra một nẻo đường canh tân Kitô giáo, nẻo đường ấy ngày nay vẫn kiến chúng ta phải ngạc nhiên[1]. Trong tiến trình này, cha nhận ra cách rõ ràng vai trò không thể thay thế của người giáo dân, đi đến đâu Cha cũng tìm cách đào tạo những nhóm giáo dân, những người này hoạt động như các tông đồ, mỗi người trong môi trường của mình và trong những trung tâm có ảnh hưởng. Đối với Cha Hofbauer, giáo dân không phải là người lấp chỗ trống hay những phụ tá của linh mục trong trường hợp cần thiết.

Năm 1789, sau khi đến Varsovie ít lâu, cha bắt đầu tập hợp các giáo dân chung quanh mình và đào tạo họ làm tông đồ. Ngay năm 1788, cha đã cho ra đời cộng đoàn giáo dân mà cha gọi là hội tông đồ giáo dân “Oblates”[2] gồm cả năm lẫn nữ hợp tác với sứ mạng của Dòng qua việc cầu nguyện, làm chứng đức tin và phổ biến sách thiêng liêng. Cha quy tụ những giáo dân ước mong làm việc tông đồ, nghĩa là những người theo Chúa Kitô và hoạt động như một nhà truyền giáo tại gia đình của họ và giữa thế gian. Các thành viên của hội phải tạo nên một đội ngũ giáo dân ưu tú. Không phải ai muốn là Clêmentê đều nhận vào. Các ứng viên phải trải qua thời gian thử thách kéo dài một năm. Sau đó, nếu có dịp ứng viên có thể tuyên thệ và sau khi tuyên thệ ứng viên được nhận một chứng thư. Tông đồ giáo dân của một nước hay một tỉnh thì tập trung lại đều đặn. Khi đó vị hướng dẫn sẽ thuyết trình hay cho thảo luận. Cuộc gặp gỡ của họ diễn ra trong nhà của các hội viên. Phần lớn thời gian được dành cho việc trao đổi ý kiến, kinh nghiệm và những phương pháp làm việc. “Trong những lần gặp gỡ này, mỗi người phải góp một điều gì đó theo cách thức đặc trưng hay tổng quát để làm phong phú lợi ích chung, người đó phải trình bày những phương tiện, cách thức và con đường đã thực hiện, để trong trường hợp và đối tượng giống như thế , người khác có thể thực hiện theo cách thức ấy. Các thành viên cũng phải thống nhất xem cuốn sách nào hay nhất, hữu ích nhất cho số người nào hay trường hợp nào đó. Trao đổi kinh nghiệm, bàn luận chung, phê bình trong những nhóm nhỏ về những hoạt động đã thực hiện”. Những điều đó cho thấy một âm vang hoàn toàn có tính hiện đại trong cách mà Clêmêntê đào tạo và gây dựng những nhóm giáo dân tông đồ.

Hiệp hội giáo dân thừa sai của Cha Hofbauer không phải là một tổ chức vô kỷ luật và làm theo hứng. Ngài đã đưa vào hiệp hội của ngài những quy tắc rất chi tiết, tất nhiên những chi tiết đó chịu ảnh hưởng của thời đại nên không còn phù hợp với cảm thức của chúng ta ngày nay. Nhưng chủ ý của Cha về hiệp hội này đã được biểu lộ trong điều dẫn vào điều lệ cho tông đồ giáo dân như sau : “ Điều cần thiết là những người còn có may mắn giữ được lòng tin này phải làm việc bằng các hợp sức chống lại trào lưu bị kích động do sự phi đạo đức và vô tín ngưỡng”[3]. Hofbauer còn giúp những tông đồ giáo dân này hiểu : nên thánh – tông đồ : đến với Chúa Kitô – đến với con người. Cha còn đưa ra các khẩu hiệu giúp họ sống : theo Chúa Kitô bằng tất cả sức mạnh ; nghe lời Chúa; tham gia vào đời sống bí tích của Giáo Hội, trau dồi đức tin nhờ giáo huấn của Giáo hội và nhờ đời sống cầu nguyện. Thế nhưng Cha Clêmêmtê lại hoàn toàn không muốn rèn luyện lòng đạo đức ăn theo. Với cha, điều quan trọng hơn đó là khắc sâu vào trí não người ta một lối sống giáo dân truyền giáo. Ở đây, chúng ta hãy tóm những chủ ý nền tảng của ngài trong một vài cụm từ chính: kiểu sống chứng nhân, nói chuyện tôn giáo trong gia đình, mục vụ báo chí, đặc biệt là phổ biến những cuốn sách hay.[4]

Hơn thế nữa, Hofbauer còn gây cho các hội viên sống tình gia đình với nhau. Họ sống với nhau như một hội bạn hữu. Người này vác đỡ gánh nặng cho người kia. Khi một trong các thành viên qua đời, mọi người được báo tin. Tuy nhiên, nhìn từ bên ngoài, hiệp hội của cha Hofbauer xuất hiện như một loại hội kín. Hội này hoàn toàn được giữ kín đối với những ai không phải là thành viên của hội. Họ phải làm cho xã hội thấm nhuần Thánh Thần của Chúa Kitô, theo cách thức men trong bột, từ bên trong và trong thầm lặng.

Có thể nói vào giai đoạn này, Hiệp hội giáo dân thừa sai của cha Hofbauer phát triển mạnh mẽ như chính sự phát triển của DCCT. Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đi đến đâu thì hiệp hội giáo dân cũng lan ra đến đó : ở Balan, Đức, Áo, Thuỵ Sĩ và Pháp.

Sau cuộc thử nghiệm gần 20 năm, cha Clêmente đã trình lên ĐTC các điều lệ dành cho tông đồ giáo dân và xin được chuẩn nhận. ngày 29 tháng 7 năm 1804, Đức Giáo Hoàng Pi-ô VII đã tán thành hiệp hội giáo dân này cùng các điều lệ.

Quả thực với sự giúp đỡ của giáo dân và những nhóm giáo dân, Cha Clêmentê Hofbauer đã trở thành một vị thừa sai vĩ đại của DCCT với biết bao công việc lớn lao mà ngài thực hiện cho nhà Dòng. Nói về tầm quan trọng của thánh Clêmêntê đối với Dòng, cha Ferrero viết : “ Sẽ là phóng đại nếu cho rằng thánh Clêmentê Maria Hofbauer là người truyền bá chính yếu của Dòng và xứng đáng hưởng danh hiệu tổ phụ thứ hai, tuy nhiên điều không thể phụ nhận là chính từ thời của Clêmentê mà Dòng đã tạo được dáng vẻ như ngày nay”. Chắc chắn Thánh Clêmentê đã bảo đảm sự tồn tại của Dòng, và hơn nữa đã mỏ rộng trên khắp địa cầu. Cha Hofer, một trong những sử gia đầu tiên về cuộc đời của thánh Clêmêntê nói : “ Nhìn lại lịch sử tiến hoá của Dòng có thể kết luận rằng: không có Hofbauer và công trình của ngài, thì không còn nghi ngờ gì, DCCT sẽ chịu chung số phận như nhiều dòng nhỏ hơn của thế kỷ 18 cũng chẳng tên tuổi gì”[5].

Những khẳng định trên của các sử gia DCCT quả đã không quá lời, khi ta thấy được mặt chìm của những công việc lớn lao ấy là do sự cộng tác của giáo dân. Chính nhờ những giáo dân và những nhóm giáo dân nhiệt thành mà Thánh Clêmentê có thể đưa Dòng phát triển mạnh mẽ ra khắp Châu âu và lan rộng trên thế giới.

Đó là công việc của một người anh em đi trước vào giai đoạn đầu của việc thành lập Dòng. Còn những anh em DCCT này nay đã cộng tác với giáo dân như thế nào ? Trong nhiều năm qua, Dòng Chúa Cứu Thế đã có hẳn một Uỷ Ban Hợp Tác Giáo Dân với tầm hoạt động trên khắp thế giới (www.cssrpim.com). Tại Tổng Công Hội (TCH) XXIV vừa rồi tại Rôma, một trong những vấn đề được TCH quan tâm đó là hợp tác giáo dân. Một trong 7 nguyên tắc căn bản cho việc tái cấu trúc của TCH là nguyên tắc tham gia và đồng tránh nhiệm. Nguyên tắc này cũng liên hệ đến những anh chị em cộng tác viên của DCCT. Và gần đây nhất trong Hội Nghị các bề trên của Tỉnh DCCT Việt nam vừa diễn ra tại Kỳ Đồng, cũng đã bàn đến và đang cố gắng đưa ra một “Quy chế hợp tác giáo dân” trong bối cảnh Việt nam nhằm nâng cao và thắt chặt hơn sự hợp tác và đem lại những quyền lợi thích đáng cho những anh chị em giáo dân nhiệt thành cộng tác với anh em DCCT trong Sứ mạng của Dòng.

Thánh Clêmentê Maria Hofbauer đã thực sự trở nên gương mẫu cho các tu sĩ DCCT trong nhiều mặt, trong đó không thể không kể đến những thành công của ngài trong việc hợp tác với giáo dân ngay từ thời mà công việc này xem ra chưa “mặn mà” mấy trong Giáo Hội. Nếu việc hợp tác với giáo dân đã được Thánh Clêmentê quan tâm như vậy từ những thế kỷ trước thì trong bối cảnh của toàn cầu hoà hôm nay việc hợp tác với giáo dân là lại càng cần thiết biết bao để có thể loan báo tin mừng cách hiệu qủa. Tỉnh Dòng Chúa Cứu thế Việt nam luôn trân trọng những sự hợp tác nhiệt thành của mọi thành phần dân Chúa. Và cũng ý thức rằng chính nhờ những anh chị em giáo dân mà Dòng đã vượt qua những khó khăn đáng kể, đặc biệt thời gian vừa qua. Nhà Dòng luôn quan niệm rằng “chính những anh chị em giáo dân thường xuyên cộng tác nhiệt thành với nhà Dòng cũng là những ‘tu sĩ’ Dòng Chúa Cứu Thế ngoài nhà Dòng”.

Ngày 15 thánh 03 năm 2010 là ngày toàn thể DCCT trên khắp thế giới hiệp cùng người anh em Clêmentê của mình tạ ơn Chúa về những việc kỳ diệu Chúa đã thực hiện trên cuộc đời ‘ba chìm bảy nổi chín lênh đênh’ của Ngài. Xin Ngài cầu bầu cho mỗi anh em DCCT luôn ý thức được vai trò của người Giáo dân trong khi thi hành sứ vụ, để khơi gợi lên trong họ bổn phận và nghĩa vụ loan truyền Đức Kitô như Sắc lệnh tông đồ giáo dân (Apostolicam Actuositatem), hiến chế ánh sáng muôn dân (Lumen Gentium) chương IV và Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo (Gravissimum educationis) đã nhấm mạnh. Đề từ đó sự cộng tác giữa anh chị em giáo dân và anh em DCCT mang lại những kết quả tốt đẹp như thánh Clêmentê đã làm.

Quy Tâm, CSsR.

-------------------------------------------

[1] Joseph Heinzmann, CSsR – Clêmentê Maria Hofbauer rao giảng tin mừng theo một cách thức mới – Tư Hội Sinh chuyển dịch, tr 8.

[2] Người sẳn sàng dấn thân để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân

[3] Joseph Heinzmann, CSsR – Clêmentê Maria Hofbauer rao giảng tin mừng theo một cách thức mới – Tư Hội Sinh chuyển dịch, tr 75

[4] Sđd, tr 76

[5] Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt nam – linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế tr, 243


image