Gởi thắc mắc

Lm Nguyễn Ngọc Bích, dcct phụ trách

Trang Giải đáp

Các website của

Dòng Chúa Cứu Thế

Trung tâm Mục vụ Dòng Chúa Cứu Thế

 

Đại Phúc

 

Giảng đại phúc là một trong những sứ mạng chính yếu Hội Thánh đã trao cho các thừa sai Canada khi mời gọi các ngài thành lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam. Suốt 75 năm qua, các vị thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (người Canada cũng như người Việt Nam) đã luôn chuyên tâm, hăng hái và miệt mài thực hiện các cuộc đại phúc trên khắp ba miền Đất Nước. Mặc dù có nhiều lúc thăng trầm tùy hoàn cảnh lịch sử, việc giảng đại phúc đã và đang vẫn là một trong những hoạt động tông đồ chính yếu của các linh mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

 

Thánh giá đại phúc năm xưa tại Cổ Vưu

 

Từ ngày 01-11-1926, chưa đầy một năm kể từ khi đặt chân tới Việt Nam, tại Đà Nẵng, các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã thực hiện một cuộc đại phúc kéo dài 7 ngày cho những người Pháp trú ngụ tại đây. Đây là cuộc đại phúc đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế tại Đông Dương. Sau đó, trong vòng khoảng một thập niên, một số cuộc đại phúc khác đã được tổ chức. Nhưng đó vẫn chỉ mới là những cuộc đại phúc bằng tiếng Pháp, dành cho những người Pháp đang sinh sống tại Việt Nam.

Tất nhiên các thừa sai Canada vẫn luôn coi việc giảng đại phúc cho giới bình dân người Việt Nam là nhiệm vụ chính yếu trong công cuộc đại phúc của Dòng Chúa Cứu Thế tại Đông Dương. Theo một trong ba quyết định quan trọng đã được đưa ra sau kỳ kinh lược của cha Louis-Philippe Lévesque, đại diện cha Bề Trên Giám Tỉnh Sainte-Anne-de-Beaupré (diễn ra từ 12-11-1929 đến 14-02-1930), ưu tiên trước hết về hoạt động tông đồ của Phụ Tỉnh là giảng đại phúc. Trong thực tế, các cuộc đại phúc dành cho giới bình dân Việt Nam chưa thể thực hiện, trước hết là do vấn đề ngôn ngữ, vì cần phải có thời gian để các thừa sai sử dụng thành thạo tiếng Việt, hầu có thể soạn và công bố các bài giảng đơn sơ nhưng thâm thúy dành cho giới bình dân. Đàng khác, đối với các thừa sai Canada, những nhiệm vụ ưu tiên trong thập niên đầu tiên thiết lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam là xây dựng các Tu Viện và các cơ sở vật chất, đồng thời bắt đầu ngay công cuộc đào tạo các thừa sai tương lai của Dòng. Về phương diện hoạt động tông đồ, chưa thể tổ chức các kỳ đại phúc tại các giáo xứ, các thừa sai đã nhận giảng nhiều cuộc tĩnh tâm cho hàng linh mục và tu sĩ, không chỉ tại Việt Nam, mà còn tại nhiều quốc gia lân cận.

Gần giữa thập niên 1930, việc xây dựng các cơ sở vật chất của Phụ Tỉnh đã đạt được những thành quả đáng kể, nhân lực được tăng cường, một số thừa sai đã có thể sử dụng tiếng Việt khá thành thục, vốn hiểu biết của các ngài về văn hóa và tâm thức của giới bình dân Việt Nam đã sâu sắc hơn. Vì vậy, Phụ Tỉnh đã tính đến việc tổ chức các kỳ đại phúc tại các giáo xứ. Cha Bề Trên Giám Phụ Tỉnh Edmond Dionne xin Tỉnh Dòng Mẹ tại Canada cung cấp các tài liệu về đại phúc để các thừa sai tại Việt Nam chuẩn bị thực hiện công cuộc quan trọng này. Một vài cuộc đại phúc đã được thực hiện. Mặc dù quy mô khiêm tốn, các cuộc đại phúc ấy đã đạt được những thành quả đáng mừng, báo hiệu một tương lai khả quan. Trong bối cảnh đó, vào năm 1936, Phụ Tỉnh cử các cha Pamphile Couture, Lucien Olivier và Antoine Lapointe tham dự khoá Nhà Tập II tại Attert (Bỉ). Các vị sẽ là ba ngọn cờ đầu trong lãnh vực hoạt động tông đồ đặc biệt này của Phụ Tỉnh. Năm 1938, một khoá Nhà Tập II đã được tổ chức tại Nhà Hà Nội. Đây là khoá Nhà Tập II đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Thành phần tham dự là các cha Canada đang trực tiếp tham gia công cuộc đại phúc.

 

Khoá Nhà Tập II đầu tiên (Hà Nội, 1938)

 

Khoá Nhà Tập II tại Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt (1954)

 

Lễ trao thánh giá thừa sai tại Khoá Nhà Tập II (Đà Lạt 1961)

 

Trong những năm cuối cùng của thập niên 1930, công cuộc đại phúc của Phụ Tỉnh có những bước phát triển vượt bậc.

Tại các Giáo Phận Hà Nội, Phát Diệm, Bùi Chu, Thanh Hóa, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Hải Phòng, các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế đã tổ chức rất nhiều cuộc đại phúc. Đáng chú ý nhất có lẽ là cuộc đại phúc tại Kẻ Sở, từ 14.07-30.07.1939. Đích thân Đức Cha François Chaize, Giám Mục Giáo Phận Hà Nội, tham dự cuộc đại phúc này. Sau đó, ngài đã yêu cầu 4 giáo xứ trong thành phố Hà Nội phải mời các cha Dòng Chúa Cứu Thế giảng đại phúc. Ngài cũng đề nghị các cha Dòng Chúa Cứu Thế tổ chức đại phúc tại tất cả các giáo xứ trong Giáo Phận của ngài.

Tại miền Trung, Đồng Hới có lẽ là nơi đầu tiên được hưởng vị ngọt của đại phúc. Năm 1939, công cuộc đại phúc đã lan tới biên giới Việt - Lào, với cuộc đại phúc tại Hữu Lễ, từ ngày 15-10 đến ngày 27-10-1939. Điểm đặc biệt của cuộc đại phúc này là có rất nhiều anh chị em dân tộc Mường tham dự.

 

Tại miền Nam, chỉ trong năm 1939, Nhà Sài Gòn đã tổ chức liên tiếp 6 cuộc đại phúc : tại Trà Vinh (01-1939), tại Thị Nghè (02-1939), tại Cái Nhum (03-1939), tại Bình Cang (04-1939), tại Cái Mơn (05-1939) và tại Russey-keo (07-1939). Giáo xứ Russey-keo là một giáo xứ người Việt tại Giáo Phận Phnômpênh, Campuchia. Như thế, công cuộc đại phúc của Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, ngay từ thập niên 1930, đã lan rộng ra bên ngoài lãnh thổ nước Việt Nam.

 

 

 

 

 

Thánh giá đại phúc tại họ đạo Cái Nhum

 

Bế mạc tiền phúc tại họ đạo Mặc Bắc (Trà Vinh, 1966)

 

Trong hai ngày 01 và 02-12-1940, Hội nghị thừa sai đại phúc đã được tổ chức tại Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Các vị thừa sai đang trực tiếp tham gia hoạt động đại phúc đã họp nhau lại, vừa để rút kinh nghiệm, vừa nhằm mục tiêu phát triển hơn nữa tinh thần thừa sai đại phúc nơi tất cả mọi anh em trong Phụ Tỉnh.

Nhưng rồi hoàn cảnh lịch sử những năm giữa thập niên 1940 đã không cho phép các thừa sai phát triển công cuộc đại phúc như trước kia. Đặc biệt từ 1943-1945, suốt thời gian quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam, các thừa sai chỉ tổ chức được một vài cuộc đại phúc nhỏ. Tại Sài Gòn, từ ngày 10-02-1943 đến ngày 04-09-1945, cứ mỗi thứ ba, các cha người Canada đều phải ra trình diện tại Sở Cảnh Sát. Từ 13-02-1943, Tu Viện phải ngưng tất cả mọi hoạt động tông đồ. Cha Bề Trên Giám Phụ Tỉnh liền quyết định mở tại Tu Viện Sài Gòn một khoá Nhà Tập II, bắt đầu từ ngày 17-05-1943, do cha Antoine Lapointe phụ trách. Tại Hà Nội, từ năm 1942 đến năm 1945, Tu Viện bị cô lập hoàn toàn, quý cha, quý thầy người Canada gần như bị quản chế trong Tu Viện, không được ra khỏi nhà và không được làm việc tông đồ, có lúc còn bị giam giữ tại khu vực Bệnh viện Robin. Các cha Việt Nam cũng không thể đi rao giảng ở các giáo xứ ngoài thành phố Hà Nội. Vì thế, vào tháng 11-1943, các cha đã tổ chức một khoá Nhà Tập II tại Tu Viện này. Như thế, trong năm 1943, hai khoá Nhà Tập II đã được tổ chức. Điểm đặc biệt của các khoá Nhà Tập II này là đã có anh em Dòng Chúa Cứu Thế người Việt tham dự. Kể từ đây, các thừa sai người Việt bắt đầu tiếp tay với các thừa sai người Canada trong công việc tông đồ quan trọng này.

Từ sau năm 1945, công cuộc đại phúc của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam lại tiếp tục gặt hái những thành công vượt bậc, đặc biệt tại miền Nam. Theo thống kê được thực hiện năm 1951, sau 25 năm Dòng Chúa Cứu Thế tới Việt Nam, Nhà Hà Nội đã tổ chức 79 cuộc đại phúc lớn nhỏ, Nhà Huế 68. Riêng Nhà Sài Gòn, từ 1934-1942, các thừa sai đã tổ chức 76 cuộc đại phúc và 10 cuộc tái phúc. Sau chiến tranh, từ 1946-1952, có 101 cuộc đại phúc và 36 cuộc tái phúc đã được các linh mục thuộc Nhà Sài Gòn thực hiện.

Thực tế, từ sau năm 1954, công cuộc đại phúc tại miền Bắc coi như chấm dứt. Tại miền Nam và miền Trung, các cuộc đại phúc vẫn tiếp tục được tổ chức, gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Tuy nhiên, thời vàng son của đại phúc kể như đã qua đi : quy mô tổ chức các cuộc đại phúc không còn lớn như trước, số lượng đại phúc cũng giảm nhiều.

Ngày 06-10-1962, nhằm phục hồi công cuộc đại phúc, Phụ Tỉnh thành lập Nhóm thừa sai đại phúc, gồm quý cha Đa-minh Đỗ Văn Thừa, Phao-lô Nguyễn Văn Cơ, Gia-cô-bê Đào Hữu Thọ và Phê-rô Đinh Ngọc Quế. Như thế, lần đầu tiên, ở cấp Phụ Tỉnh, một nhóm thừa sai đại phúc được thành lập. Ngay sau đó, Nhóm đã thực hiện một số cuộc đại phúc, trong đó, cuộc đại phúc đầu tiên diễn ra tại Phan Rang, kéo dài hai tháng.

Ngày 27-05-1964, Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được thành lập.

Một năm sau, ngày 12-05-1965, Tỉnh Dòng khai mạc một khoá Nhà Tập II tại Đà Lạt, dành cho 14 linh mục trẻ. Đây là khoá Nhà Tập II cuối cùng được tổ chức tại Việt Nam. Sau đó, một nhóm thừa sai đại phúc được chào đời, khơi lại ý thức về một loại hình hoạt động tông đồ truyền thống đang dần bị quên lãng. Ngay sau khi được thành lập, Nhóm thừa sai này đã lên đường thực hiện một cuộc đại phúc tại Đơn Dương, theo đường lối đại phúc canh tân.

Tuy nhiên, do thời thế, công cuộc đại phúc của Tỉnh Dòng đã không phát triển mạnh mẽ. Từ giữa thập niên 1960, hoạt động tông đồ này hầu như không còn được thực hiện. Cho tới gần đây ...

Năm 1993, sau hơn 20 năm bị ngắt quãng, công cuộc đại phúc đã hồi sinh trở lại. Công đầu thuộc về Cộng Đoàn Clê-men-tê. Các cha, các thầy thuộc Nhà Huế, nhà Nha Trang và Nhà Sài Gòn cũng góp phần không nhỏ vào thành quả này. Trong vòng 7 năm cuối cùng của thiên niên kỷ, 10 cuộc đại phúc đã được thực hiện tại nhiều giáo xứ thuộc các Giáo Phận miền Trung và miền Nam, nhất là Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh. Các cuộc đại phúc này, tuy không có được tầm vóc lớn lao như nhiều cuộc đại phúc được thực hiện trước năm 1954, nhưng đã tạo nên được một bầu khí sống Đạo mới tại những vùng tổ chức đại phúc, và là những dấu hiệu báo trước một thời kỳ hào hùng mới trong lịch sử đại phúc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam …

 

Cộng đoàn Clê-men-tê giảng đại phúc tại giáo xứ Phao-lô Bình Chánh (3-1996)

 

 

Cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Loan báo Tin Mừng cho lương dân

Mục vụ Giải Tội

Mục vụ Tĩnh Tâm

Mục vụ Giáo Lý

Mục vụ Giáo Xứ

Hoạt động tông đồ bằng ngòi bút và các công tác chuyên môn

Mục vụ gia đình

Các phong trào Công Giáo

Mở trường dạy học

Hoạt động tông đồ - bác ái - xã hội

chuacuuthe.com © 2005