|
Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR. Chúa Nhật 13 Thường Niên Lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ Ngày 29-6-2003 Cv 12:1-11; 2 Tm 4:6-8,17-18; Mt 16:13-19 Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng kính hai Thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ. Cùng với các vị tông đồ khác, các ngài đã có công lớn trong việc giữ vững và truyền bá Tin Mừng của Chúa Kitô cho nhân loại. Thánh Phêrô được chính Chúa Giêsu chọn làm nền đá để xây dựng Hội Thánh và Thánh Phaolô là tông đồ cho dân ngoại giúp đưa Tin Mừng lan rộng khắp nơi. Nhưng điều gì đã khiến Chúa chọn các ngài. Nhìn lại cuộc đời của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô và xét theo tiêu chuẩn thông thường của xã hội, chúng ta thấy chỉ có Chúa mới chọn các ngài theo một tiêu chuẩn khác thường. Dựa trên các dữ kiện được ghi lại trong Tin Mừng, Thánh Phêrô làm nghề đánh cá, ít ăn học, tính tình bộp chộp, đã từng dám nhảy xuống biển để liều đi đến với Chúa Giêsu, lúc đầu cũng thích danh vọng hào nhoáng bên ngoài hơn là phục vụ. Là một trong những môn đệ tín cẩn của Chúa Giêsu, đi đâu Chúa cũng dắt theo, thế mà cũng chính Phêrô là người sợ chết phản bội chối Chúa đến ba lần. Còn Thánh Phaolô cũng không khá gì hơn. Ngài từng đi bách hại những Kitô hữu tiên khởi, hăng hái truy nã những người tuyên xưng đức tin vào Ðức Kitô. Thế mà Thánh Phêrô đã được chính Chúa Giêsu chọn thay Ngài hướng dẫn, điều khiển con thuyền Hội Thánh cùng với sự cộng tác của các tông đồ khác. Còn Thánh Phaolô được Chúa tuyển chọn khi trên đường đi Damas bách hại đạo Chúa để rồi trở thành một sứ giả nhiệt thành truyền bá Tin Mừng cứu rỗi cho dân ngoại. Có lẽ lý do duy nhất để hiểu việc Chúa Giêsu tuyển chọn hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô là do tình yêu bao la, vô điều kiện của Ngài. Chúa Giêsu đã không chọn các tông đồ dựa theo tài năng của họ bởi vì cuối cùng ra, kết quả của việc rao giảng Tin Mừng là do tình thương và quyền năng của Thiên Chúa mà thôi. Còn hai thánh tông đồ cùng biết bao vị rao giảng khác chỉ là những sứ giả của Ngài được chọn sai đi. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là phủ nhận vai trò cộng tác của con người với Thiên Chúa và trong trường hợp này là Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Vậy các ngài đã cộng tác với Chúa như thế nào. Xin thưa, đó là qua sự thống hối, tin yêu và trung tín. Trước hết, các ngài đã cộng tác bằng việc thống hối khi nhìn nhận ra tội lỗi và sự yếu đuối của chính mình. Truyền thống kể rằng, kể từ sau sự kiện Thánh Phêrô ăn năn vì đã chối Chúa Giêsu ba lần, ngài đã khóc rất nhiều mỗi khi nghĩ đến sự hèn nhát phản bội của mình đối với Chúa đến nỗi trên đôi má của ngài hằn vết lệ. Trong sách Công vụ Tông đồ cùng những thư do chính ngài viết ra, Thánh Phaolô vẫn luôn nhìn đến biến cố trên đường Damas là một ân huệ đặc biệt Chúa ban để ngài biết ăn năn quay đầu trở lại. Ðiểm thứ hai, các ngài đã cộng tác bằng việc tin yêu vào Chúa Kitô. Sau biến cố gà gáy đối với Thánh Phêrô và biến cố ngã trên đường Damas đối với Thánh Phaolô, Ðức Giêsu trở thành trung tâm điểm của cuộc đời hai ngài. Xưa kia nhát đảm bao nhiêu thì nay Thánh Phêrô lại can đảm tuyên xưng danh thánh Chúa Giêsu giữa công cộng mặc cho bắt bớ gông cùm. Còn Thánh Phaolô cũng vậy, ngài hăng say rao giảng Tin Mừng cho mọi người dù cho bị đắm thuyền, bị xua đuổi, đánh đập. Ðiểm thứ ba, hai Thánh Tông đồ đã cộng tác bằng sự trung tín. Thánh Phêrô đã trung thành với sứ mạng rao giảng Nước Trời đến lúc sẵn sàng hy sinh chịu chết khi bị đóng đinh ngược trên thập giá vào năm 64 tại Rôma. Còn Thánh Phaolô cũng chịu tử đạo khi bị chém đầu tại Rôma năm 67. Ngày hôm nay, khi mừng kính lễ hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô, chúng ta được mời gọi cạ tụng tình yêu bao la của Thiên Chúa và kỳ công Ngài đã thực hiện qua cuộc đời hai thánh. Các vị đã trở nên những rường cột của Hội Thánh trước hết không phải do công lao cá nhân nhưng được chính Thiên Chúa thánh hoá. Dĩ nhiên, việc nên thánh không chỉ dành cho hai ngài hay một thiểu số nào đó thôi nhưng còn là mời gọi của Thiên Chúa đối với hết thảy mọi người tín hữu. Chúng ta hãy xin hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô cầu bàu cho chúng ta biết noi gương sáng của các ngài khi mạnh dạn tuyên xưng Ðức Kitô là Ðấng Cứu Thế không phải chỉ qua lời nói nhưng bằng chính một cuộc sống thống hối, tin yêu và trung tín.
|