Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The

Ngày 20-02-1968, cha Huysman, đại diện linh mục Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế, đã bắt đầu kỳ kinh lược Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Ngày 02-03-1968, trước khi rời Việt Nam lên đường trở về Rô-ma, cha Huysman đã ký quyết định đặt cha Bê-nê-đích-tô Hoàng Quang Lượng (sinh ngày 05-05-1915, khấn Dòng ngày 15-08-1940, lãnh sứ vụ linh mục ngày 07-06-1945) làm Quyền Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, đồng thời yêu cầu cha Quyền Bề Trên Giám Tỉnh xúc tiến ngay việc tổ chức một Công Hội tuyển cử nhằm mục tiêu soạn thảo thể lệ bầu cử và bầu cử cha Bề Trên Giám Tỉnh cũng như các chức vụ khác trong Tỉnh Dòng.

Ngay sau khi cha Huysman kết thúc chuyến kinh lược, Tỉnh Dòng đã tiến hành bầu cử các đại biểu tham dự Công Hội tuyển cử. Trong cuộc bầu phiếu này, những quan điểm khác biệt giữa anh em trong Tỉnh Dòng về đường lối phát triển của Tỉnh Dòng đã biểu lộ khá rõ nét.

Từ ngày 22-05 đến ngày 05-06-1968, Công Hội tuyển cử đã được triệu tập. Trải qua nhiều ngày thảo luận, cuối cùng, Công Hội đã soạn thảo xong bản thể lệ bầu cử và tiến hành bầu cử chức vụ Bề Trên Giám Tỉnh. Tại vòng bỏ phiếu thứ 38, cha Bê-nê-đích-tô Hoàng Quang Lượng đã đắc cử với số phiếu 21/31 phiếu. Như vậy, sau khi được cha Bề Trên Tổng Quyền phê chuẩn, ngài sẽ là vị Bề Trên Giám Tỉnh đầu tiên của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam do anh em trong Tỉnh Dòng bầu lên.

Công Hội Tỉnh cuối tháng 05 đầu tháng 06-1968 cũng đã thảo luận về việc thiết lập các ban chuyên môn trong Tỉnh Dòng, và về ý kiến của cha Bề Trên Tổng Quyền Tarcis Arivaldo Amaral đề nghị Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đảm nhận việc truyền giáo tại Matadi (Congo). Trong văn thư đề ngày 06-06-1968, cha Bề Trên Giám Tỉnh thay mặt Công Hội cảm ơn cha Bề Trên Tổng Quyền đã tín nhiệm Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, đồng thời thưa với ngài rằng Tỉnh Dòng chưa thể đảm nhận trách nhiệm lập giáo điểm truyền giáo tại Congo.

Sau Công Hội, có hai sự kiện đáng chú ý trong đời sống của Tỉnh Dòng. Trước hết là cuộc viếng thăm của cha Achard, Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Sainte-Anne-de-Beaupré. Thứ hai là việc thành lập Ban giáo sư của Học Viện. Sau nhiều cuộc trao đổi, cuối cùng, Học Viện đã có được một Ban giáo sư, nói như cha Bê-nê-đích-tô Hoàng Quang Lượng, "tạm gọi là đủ số".

Trước khi từ giã năm 1968 đầy biến động (trong đời sống Tỉnh Dòng cũng như trong hoàn cảnh chung của Tổ Quốc), từ ngày 27-12-1968, Công Hội Tỉnh đã được triệu tập. Công Hội họp 2 tuần và kết thúc vào ngày 15-01-1969, nhằm mục đích đề ra một đường lối điều hành đời sống tu trì và hoạt động tông đồ trong Tỉnh Dòng, phù hợp với hoàn cảnh thời đại và hoàn cảnh Ðất Nước. Sau khi xác định những khao khát của dân chúng đương thời về các phương diện xã hội và tôn giáo, Công Hội đã đưa ra một số đường hướng về việc quản trị và hoạt động của Tỉnh Dòng nhằm góp phần đáp ứng những khao khát đó. Công Hội nhấn mạnh hai nguyên tắc quản trị Tỉnh Dòng trong giai đoạn này : (1) phân quyền và (2) cộng đoàn trách nhiệm. Bốn ban chuyên môn được thành lập : Ban thừa sai, Ban giáo dục, Ban các Thầy và Ban tài chính. Công Hội cũng chấp thuận sự từ chức của 4 cha Cố Vấn Tỉnh và bầu 4 vị khác thay thế. Tháng 03-1969, cha Bề Trên Tổng Quyền Tarcis Arivaldo Amaral quyết định không phê chuẩn sự từ chức đó, bởi lẽ theo dự trù, sau Tổng Công Hội sẽ họp trong vòng vài tháng sắp tới, một nhiệm kỳ mới sẽ được khởi sự tại tất cả các Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế trên thế giới. Dù sao, với việc thành lập các ban chuyên môn, guồng máy quản trị Tỉnh Dòng đã được tổ chức xong và đang khởi sự hoạt động.

Về phương diện hoạt động tông đồ, Công Hội Tỉnh bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đối với vấn đề truyền giáo. Việc thành lập các nhóm tông đồ nhỏ tại vùng cao nguyên miền Trung và tại miền Lục Tỉnh (đồng bằng sông Cửu long) được khuyến khích và cổ võ. Hoạt động tông đồ bằng ngòi bút và công tác xuất bản cũng được đề cao. Báo Tuổi Hoa được ca ngợi. Nguyệt san Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được đề nghị đổi mới về cả hình thức lẫn nội dung.

Thực tế, trong hai năm 1968 và 1969, công cuộc truyền giáo của Tỉnh Dòng gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn, nhưng vẫn tiến triển thật hào hùng. Tại Fyan và Châu Ổ, một số giáo điểm và cơ sở truyền giáo đã phải hứng chịu nhiều tác động tiêu cực của chiến tranh. Các thừa sai tại Fyan đã phải cùng với anh chị em dân tộc thiểu số trốn chạy các cuộc nổ súng giữa các bên tham chiến. Tại Châu Ổ, cha An-phong Nguyễn Ðức Ðiềm (23-02-1969) và thầy Phao-lô Phạm Mẫn (21-03-1969) đã đổ máu đào hy sinh trên cánh đồng truyền giáo.

Ðặc biệt, vào ngày 10-10-1969, một vùng truyền giáo mới của Tỉnh Dòng đã được khai sinh tại Tây Nguyên, giữa bom đạn chiến tranh. Ðáp lời kêu gọi của Ðức Cha Paul Seizt, Giám Mục Giáo Phận Kontum, cha An-tôn Vương Ðình Tài, thầy Phê-rô Hồ Văn Quân, thầy Giu-se Trần Sĩ Tín và thầy Phê-rô Nguyễn Ðức Mầu đã dấn thân phục vụ công cuộc loan báo Tin Mừng cho anh chị em dân tộc J'rai tại đây.

Trong số rất nhiều các hoạt động tông đồ đang được thực hiện, tuyên úy quân đội là một loại hình hoạt động tông đồ đáng chú ý. Trong lãnh vực tuyên úy, công cuộc có ý nghĩa và tác dụng lâu dài là chương trình "Mỗi quân nhân một Tân Ước" (năm 1969) do các cha tuyên úy Dòng Chúa Cứu Thế chịu trách nhiệm chính. Hàng chục năm sau đó, các cựu quân nhân Công Giáo và gia đình họ vẫn còn được hưởng nhờ lợi ích thiêng liêng quan trọng của chương trình này.

Về phương diện đào tạo, vào năm 1968, Ðệ Tử Viện Vũng Tàu (gồm 120 đệ tử) sau hai năm ở Chợ Lớn, đã chuyển hẳn về Thủ Ðức. Tiểu Ðệ Tử Viện Huế được chuyển vào Chợ Lớn vì lý do chiến tranh tại miền Trung khá khốc liệt. Từ niên học 1969-1970, Tiểu Ðệ Tử Viện Huế được chuyển lại về Huế. Chương trình sinh viên dự tập "vào đời" vẫn được tiếp tục.

Ngày 14-04-1969, Tổng Công Hội mở rộng đã được khai mạc tại Rô-ma, duyệt chính bản Hiến Pháp được thử nghiệm từ 1964, soạn thảo thành bản Hiến Pháp và Quy Luật 1969. Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam có 2 đại biểu tham dự kỳ họp này của Tổng Công Hội. Ðó là cha Bề Trên Giám Tỉnh và cha Henri Bạch Văn Lộc.

Sau Tổng Công Hội 1969, tại Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Hiến Pháp và Quy Luật đã được anh em quan tâm học hỏi và thảo luận. Một hoạt động khác cũng thu hút sự quan tâm của nhiều anh em trong Tỉnh Dòng. Ðó là việc bầu cử cha Bề Trên Giám Tỉnh theo quyết định của Tổng Công Hội. Theo kết quả khui phiếu (vòng 2) ngày 01-12-1969, cha Henri Bạch Văn Lộc đắc cử Bề Trên Giám Tỉnh.

Ngày 24-12-1969, cha Bê-nê-đích-tô Hoàng Quang Lượng kết thúc nhiệm vụ lãnh đạo Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, sau 3 tháng là Quyền Bề Trên Giám Tỉnh và hơn một năm sáu tháng là Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Có thể nói điểm nổi bật của lịch sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam trong giai đoạn từ đầu tháng 03-1968 đến hết tháng 12-1969 là việc thảo luận và xác định những đường hướng quản trị và hoạt động tông đồ của Tỉnh Dòng. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, hai Công Hội Tỉnh đã được triệu tập, hai cuộc bầu cử Bề Trên Giám Tỉnh được tổ chức, chưa kể các cuộc bầu cử các đại biểu Công Hội, các chức vụ trong Ban Cố Vấn và các chức vụ khác trong Tỉnh Dòng. Tất cả những điều đó phần nào đã chứng tỏ Tỉnh Dòng đang chuyển mình mạnh mẽ để phát triển theo tinh thần canh tân của Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, giữa hoàn cảnh lịch sử dầu sôi lửa bỏng.

[Home]

Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The


Dong Chua Cuu The.
All rights reserved.
Email: ducme@cuuthe.com