
Ngày 23 tháng 7 năm 1961, cha I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm được bổ nhiệm làm Bề Trên Giám Phụ Tỉnh. Ngài là linh mục người Việt Nam đầu tiên được đặt vào vị trí lãnh đạo cao nhất của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, và là linh mục người Việt Nam duy nhất giữ chức vụ Bề Trên Giám Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Chính ngài là một trong những anh em có vai trò trực tiếp và rất quan trọng trong việc thành lập Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.
Cha I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm sinh ngày 30-01-1921, tại Hà Tĩnh. Ngài vào Ðệ Tử Viện năm 1937, khấn Dòng năm 1945, lãnh sứ vụ linh mục năm 1950. Năm 1951, ngài đi du học tại Rô-ma. Năm 1953, sau khi đậu tiến sĩ triết học, ngài về dạy tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Ðà Lạt cho đến ngày lên làm Bề Trên Giám Phụ Tỉnh.
Nửa đầu thập niên 1960, vì nhiều lý do khác nhau, thế giới và Giáo Hội, cách riêng là Ðất Nước và Giáo Hội Việt Nam, bắt đầu có những biến chuyển lớn lao, nhanh chóng. Nội bộ Phụ Tỉnh cũng có những biến chuyển ở mức độ nào đó. Những biến chuyển bên trong và bên ngoài này cộng hưởng với nhau, tạo ra nhiều tác động đôi khi tiêu cực trên đời sống và sự phát triển của Phụ Tỉnh. Do đó, nhằm giúp anh em trong Dòng tại Việt Nam giữ vững tinh thần tu trì, thích nghi với những biến chuyển của thời đại, theo kịp đà tiến của thế giới và Giáo Hội, bảo toàn sự tồn tại và phát triển của một Phụ Tỉnh đang trên đường trở thành Tỉnh Dòng độc lập, dưới thời cha I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm, Phụ Tỉnh đã thực hiện nhiều công việc. Trong số đó có bốn sự kiện đáng chú ý sau đây:
Thứ nhất: mời cha Paul Hitz, người Thụy Sĩ, giáo sư và là thần học gia uy tín của Dòng, sang giảng tĩnh tâm cho quý cha và anh em sinh viên 3 tuần, vào tháng 7 năm 1962.
Thứ hai: thảo luận quy chế liên quan đến việc thành lập Tỉnh Dòng Việt Nam, đặc biệt các vấn đề nhân sự và tài chính. Kết quả thảo luận đã được cha I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm, Bề Trên Giám Phụ Tỉnh Việt Nam và cha Georges Bérubé, Bề Trên Giám Tỉnh Sainte-Anne-de-Beaupré, ký kết bằng văn bản vào tháng 5 năm 1964, và được cha Bề Trên Tổng Quyền Guillaume Gaudreau phê chuẩn ngày 27 tháng 05 năm 1964.
Thứ ba: sửa đổi bộ Quy Luật Phụ Tỉnh Việt Nam. Bộ Quy Luật này sau đó ít lâu được soạn thảo lại thành Quy Luật Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.
Thứ bốn: phổ biến đến từng anh em tập "Hướng Dẫn Thiêng Liêng" (Directorium Spirituale) do Tổng Công Hội năm 1963 soạn thảo và ban hành theo tinh thần của Công Ðồng Va-ti-ca-nô II.
Trong giai đoạn chuẩn bị trở thành Tỉnh Dòng độc lập, nhân sự Phụ Tỉnh Việt Nam có sự chuyển biến đáng kể. Năm 1961, Phụ Tỉnh có 450 đệ tử, 7 tập sinh, 74 tu sĩ thừa sai, 29 sinh viên, và 102 linh mục, trong số đó có 75 linh mục Việt Nam, sống trong 7 Tu Viện. Năm 1964, Phụ Tỉnh đã có 103 linh mục, trong đó có 82 linh mục Việt Nam, 25 sinh viên, 77 tu sĩ thừa sai, 11 tập sinh và 440 đệ tử, sống trong 8 Tu Viện. Tuy nhiên, tỉ lệ tăng trưởng giảm nhiều so với giai đoạn trước. Từ đầu thập niên 1960, tỷ lệ ứng sinh vào Tập Viện và khấn Dòng ít so với con số đệ tử.
Trong giai đoạn này, quý cha trong Phụ Tỉnh, nhất là cha Gérard Gagnon, cha Giu-se Trần Hữu Thanh, cha An-tôn Nguyễn Ðức Tuyên, cha Gio-an B. Hồng Phúc, đã xuất bản nhiều sách vở, tài liệu giáo lý, tu đức và Thánh Kinh. Công việc giúp đỡ phụ nữ và trẻ em bị bỏ rơi của cha Lucien Olivier ngày càng mở rộng. Năm 1962, ngài đã lập được 11 nhà tạm lánh, phục vụ cho khoảng 1.200 phụ nữ và trẻ em.
Năm 1961, như một cố gắng nhằm phục hồi công cuộc giảng đại phúc đã suy giảm từ giai đoạn trước, Nhà Dòng thành lập một nhóm thừa sai đại phúc mới tại Nha Trang, gồm các cha Ða-minh Ðỗ Văn Thừa, Gia-cô-bê Ðào Hữu Thọ, Phao-lô Nguyễn Văn Cơ, Phê-rô Ðinh Ngọc Quế. Ngay sau đó, nhóm này đã thực hiện một số cuộc đại phúc tại Phan Rang.
Công cuộc truyền giáo tiếp tục phát triển, bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm do chiến tranh. Tại Fyan và Châu Ổ, nhiều giáo điểm mới được thành lập. Nhiều anh em đã tự nguyện dấn thân vào nơi gian nguy để rao giảng Tin Mừng cho người ngoại.
Giữa những thuận lợi và khó khăn trên đây, ngày 27-05-1964, cha Bề Trên Tổng Quyền Guillaume Gaudreau ký Nghị định thành lập Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.