Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The

[Tinh Dong Viet Nam]



Huy Hieu Dong


Lời Phi Lộ : Mấy trang sau đây, viết về Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, không dám đề là Những Trang Lịch Sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, vì tình trạng tị nạn không (hoặc khó) cho phép lọt Hồ sơ Văn khố Tỉnh Dòng Việt Nam, lúc này còn hay chăng tích trữ tại Saigon. Nên chỉ tạm tùy bút nhắc nhở Vài Nét Ðại Cương về Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Dầu vậy, chắc chắn sẽ có ít nhiều lầm lẫn và thiếu sót về niên hiệu, danh tánh, hoàn cảnh, nguyên nhân ... rất mong được rộng rãi sửa sai và bổ túc, nhờ hảo tâm và thiện chí của toàn thể độc giả thân mến. Cám ơn.

Lm. Lê Huy Bảng, C.Ss.R


I- NGUYÊN THỦY (19/11/1924 - 30/11/1925)

Theo "An Phong Gia Ðình Biên Ký Tập" (Chroniques de la Famille Alphonsienne của Tỉnh Dòng Sainte Anne de Beaupré, Canada), thì ngày Sinh nhật của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam là ngày 30/11/1925, ngày các đấng Thừa sai tiên khởi đặt chân lên đất Việt Nam.

Năm 1923, Ðức Thánh Cha Piô XI đặc phái Ðức Cha Henri Lecroart SJ, Giám Mục Ðịa phận Tcheli Ðông Nam Trung Hoa, làm Khâm sai kinh lược ba kỳ Bắc Trung Nam của Việt Nam thời ấy.

Trong bản phúc trình gửi về Tòa Thánh, Ngài đặc biệt nêu lên sự cần thiết thành lập một dòng tu linh mục thừa sai chuyên giảng cấm phòng cho hàng đạc đức và tu sĩ, và giảng đại phúc cho các họ đạo.

Ngày 20/6/1924, đại hội toàn bộ Thánh bộ Truyền giáo thịnh tình cứu xét bản phúc trình của Ðức Cha Lecroart và trao trọn quyền cho Ðức Hồng Y Chủ Tịch Thánh bộ là Ðức Hồng Y Van Rossum (người Belgium) thuộc DCCT, để sớm liên lạc và vận động với đấng Tổng quyền DCCT là Cha Patrick Murray (người Ireland) cho phép lập dòng tại Việt Nam.

Ngày 9/11/1924, ngày kỷ niệm lập dòng, Ðức Hồng Y Chủ Tịch Thánh Bộ Truyền giáo gửi đến Cha Tổng quyền DCCT một lá thư thỉnh ý đề nghị. Và muốn ảnh hưởng sự lựa chọn của Cha Tổng quyền, Ngài ghi chú: "Nếu tôi không lầm, thì đây là một công tác tốt đẹp cho Tỉnh Dòng Thánh Anna Beaupré (Canada) đang khát vọng tông đồ các Xứ Truyền giáo!"

Quả nhiên, ngày 19/11/1924, Cha Tổng quyền đã hân hoan trao tặng việc lập DCCT/VN cho Tỉnh Dòng Thánh Anna Beaupré. Cha Giám Tỉnh là Cha THOMAS PINTAL và toàn thể Tỉnh dòng reo mừng và biết ơn đón nhận danh dự tham gia công cuộc truyền giáo vùng Ðông Nam Á (Thư luân lưu 12/12/1924). Sau một năn liên lạc thư từ với Ðức Cha Lý (Mgr ALLYS) đang cai quản Ðịa phận Huế (Bình Trị Thiên), Cha Giám tỉnh, trong thư luân lưu 3/9/1925, đã công bố danh sách quí vị Thừa sai tiên phong: ba cha và hai thầy. Quí Cha: HUBERT COUSINEAU, EUGENE LAROUCHE, EDMOND DIONNE. Quí Thầy: BARNABE và ÉLOI. Chia làm hai nhóm. Nhóm đầu gồm hai Cha: Cousineau, Larouche, và Thầy Barnabé. Sau một tháng vượt biển qua ngã Nhật bản, ba đấng đã đặt chân lên đất Thần kinh, đầu mùa mưa, 30/11/1925. Qua năm sau (1926) nhóm hai: Cha Dionne và Thầy Éloi lên đường. Cùng một thời gian, cũng một hành trình.

Huế đã được chọn làm môi sinh DCCT, vì Huế nằm giữa trục giao thông Bắc Nam. Ðịa phận Huế đã vinh dự đón tiếp trước tiên DCCT, Ðức Cha Lý, khi mở tay chào rước ba vị Thừa sai, có tuyên bố: "Quí ngài hãy vui sướng mà biết cho rằng, tôi không bỏ qua một ngày mà không cầu nguyện với Thánh Giám mục Anphong Ligôri, Ðấng sáng lập dòng của quí ngài".

Ngày 15/5/1932, Cha H. Cousineau, sau 6 năm hoạt động tận lực đắc lực và dày công hy sinh, vì lý do sức khỏe, đã phải tiếc xót hồi hương. Cha E. Larouche và Cha E. Dionne sẽ lưu nhiệm lâu năm. Hai ngài tài cao đức rộng, đã đóng góp rất nhiều vào công việc thành lập và phát triển Tỉnh DCCT/VN. Xin ghi ơn hai ngài.

Back to TopBack to Top


II- THÀNH LẬP - PHÁT TRIỂN

A- SƠ KHAI (30/11/1925 - 28/4/1930)

Trong thời gian sơ khởi lập Dòng, mọi địa điểm đều mang tên ÐỊA ÐIỂM TRUYỀN GIÁO (Mission). Thời gian địa điểm truyền giáo DCCT/VN kéo dài 5 năm. Năm năm dày đặc công lao gian khổ, thấm nhuần mồ hôi nước mắt của các vị Thừa sai anh hùng, trong đồng ruộng truyền giáo. Mất nhiều năm tháng làm quen với phong tục, ngôn ngữ. Trải qua nhiều tháng năm mà vẫn chưa quen khí hậu, thời tiết miền nhiệt đới. Các ngài không ngần ngại tra tay vào việc ngay. Sứ mạng tông đồ truyền giáo đã được thi hành triệt để và tức khắc: GIẢNG DẠY và XÂY CẤT.

6/1/1926: giảng cấm phòng cho các Cố Thừa sai Pháp của các địa phận Hưng hóa, Phát diệm, Hà nội, Huế và cho các sư huynh Lasan, theo lời mời của chính các Ðức Cha địa phận.

    1-7/11-1926: giảng đại phước ở Ðà Nẵng (Tourane) cho 300 Pháp kiều.

25/7/1928: giảng cấm phòng 2 tháng liền ở Singapour.

11/9/1928: khai lập nhà dòng Thái Hà Ấp (Hà Nội).

1/9/1928: thử nhận 27 chú Ðệ tử tại Huế.

8/12/1929: khai giảng năm Tập viện cho 7 thầy trợ sĩ.

29/12/1929: khai mạc tổ chức DIỄN THUYẾT CHÚA NHẬT cho đồng bào lương tại Huế

Back to TopBack to Top


B- PHỤ TỈNH ( 28/4/1930 - 27/5/1964)

Một sắc lệnh của Tổng quyền DCCT, ký tại Roma 28/4/1930, công bố tại Huế 3/6/1930 nâng Ðịa điểm Truyền giáo DCCT lên hàng PHỤ TỈNH DVVT/VN, Cha Edmond Dionne (Cố Lý) là Phụ Giám Tỉnh tiên khởi

Back to TopBack to Top


1- TU VIỆN HUẾ (25/3/1929)

30/11/1925: Bước chân tới Huế, ba vị Thừa sai tạm trú tại Nhà chung, cạnh Tòa Giám mục

1/10/1926: đến tạm cư tại dimh thự của Cụ Ðốc ALEXIS ÐINH DOÃN SẮC, sát cạnh cổng xe lửa.

17/9/1927: mua thửa ruộng gần An định cung, chợ An cựu.

18/3/1928: Ðức Cha Lý chủ lễ đặt viên đá khởi công.

8/9/1928: khánh thành nhà dòng mới. Ngôi lầu hai tầng, vạm vỡ, kiên cố. Cụ Ðốc Sắc, đốc công sở Công chánh Thừa thiên làm thầu khoán. Con đường Khải Ðịnh chạy dài trước nhà Dòng ấy, hồi ấy đang được đắp đất đổ đá. Nên biết: Luật dòng bắt buộc xây cất tu viện xa thành thị. Thời đây, xây "giữa đồng" đã là hết sức "xa thành thị" rồi vậy.

25/3/1929: Chính thức thiết lập (theo giáo luật) TU VIỆN ÐMHCG.

19/4/1933: khánh thành nhà nguyện mới.

6/8/1936: dự thảo CHƯƠNG TRÌNH L'ACCUEIL, do Cha PATRICE GAGNÉ đề xướng. Ðược chính phủ cấp sở đất trước mặt nhà dòng, bên kia đường Khải định.

24/9/1938: khai trương Thư Viện L'Accueil.

11/5/1939: khánh thành Hội Trường L'Accueil.

9/1/1943: Cắt băng mở cửa Phòng đọc sách ACCUEIL.

23/7/1944: khánh thành Cư xá NGUYỄN TRƯỜNG TỘ.

Từ 1953: Hội Trường L'Accueil hóa thành NHÀ MÁY CƯA L'ACCUUEIL. Khai thác lâm sản Ðèo Cả, Lăng cô. Khai khẩn đồn diền Ðá Hàn. Gây nguồn lợi cho nhà dòng. Vì Huế gần vĩ tuyến 17, thành Vùng trái độn.

Tháng 10/1954: Ðức Cha Ðịa phận JEAN BAPTISTE URRITIA (Cố Thi) ban sắc lệnh lập Họ ÐMHCG.

Tháng 1/1959: Lễ đặt viên đá khởi công kiến thiết Thánh đường ÐMHCG.

9-12/8/1962: Tam nhật trọng thể khánh thành Ngôi Thánh đường, sự nghiệp của cha Bề trên PHANXICÔ XAVIÊ TRẦN VĂN HƯNG.

Back to TopBack to Top


2- TU VIỆN THÁI HÀ ẤP (Hà nội) (7/5/1928)

18/9/1928: Ðức Cha già Ðông (Mgr PIERRE GENDREAU, MEP) Giám mục Ðịa phận Hà nội mở rộng hai tay đón các Cha đến xin lập dòng. Một tuần lễ tạm trú trong Nhà chung Hà nội.

26/91928: đến tạm cư ở Ấp Thái Hà, cách thành phố Hà nội 2 cây số, theo đường tàu điện chạy vào Hà đông. Khu đất rộng 6 mẫu tây, sẵn có bốn căn nhà trệt.

7/5/1929: Nhà dòng được chính thức thiết lập.

13/11/1930: khởi công xây tu viện.

12/9/1931: khánh thành lầu ba tầng TU VIỆN THÁNH AN PHONG.

27/7/1935: hoàn thành và làm phép nhà thờ kính Thánh An Phong, bổn mạng.

31/3/1938: khánh thnah lầu ba tầng, nối dài cánh trái nhà dòng, làm Học Viện.

5/11/1939: thành lập Giáo Xứ Thánh An Phong ( Xứ Thái Hà).

14/7/1954: di cư vào Nam. Còn lại 3 Cha: THOMAS CÔTÉ, DENIS PAQUETTE, GIOAN MARIA VŨ NGỌC BÍCH và hai Thầy: MARCEL VĂN và CLÉMENT MẪN.

23/10/1958: Cha Paquette bị trục xuất.

28/10/1959: Cha Côté đồng số phận. Còn lại một mình Cha Bích với Thầy Clément Mẫn. Thầy Marcel Văn đã bị bắt giam trên Yên bái và đã chết rũ tù tại đấy (9/7/1959). Ít lâu sau, Thầy Clément cũng chung một số phận.

Cuối năm 1961: nhà nước chiếm đóng trọn hai ngôi lầu, để lại cho Cha Bích một căn nhà nhỏ cạnh lầu chuông, và nhà thờ.

Back to TopBack to Top


3- TU VIỆN SAIGON (24/6/1933)

25/11/1931: Ðức Cha Ðược (Mgr DUMORTIER, MEP) được tiếng là khó tính, nên đã tiếp nhận đơn xin lập dòng một cách dè dặt. Mọi phép tắc tại Tòa Giám mục sẽ gặp nhiều khó khăn với nhiều điều kiện. Phép mua đất, phép xây nhà dòng được gài điều kiện bất khả kháng: Không được mở Học viện và Ðệ tử viện. Các cha đến tạm trú trong họ Khánh hội.

24/6/1933: tạm cư tại 163, Rue Paul Blanchy (đường Hai Bà Trưng), ngôi biệt thự do một bà phú hộ người Pháp dâng cúng.

6/1/1937: được mua khu đổ rác (lạch Trương Minh Giảng), 2 xu một thước vuông

29/10/1938: lễ đặt viên đá.

14/3/1940: làm phép Tu Viện hai tầng lầu, TU VIỆN THÁNH GIUSE, 38 đường Kỳ Ðồng, Saigon.

Tháng 10/1942 - 15/6/1946: xây đắp - khánh thành Hang đá Lộ Ðức.

Tháng 5 - tháng 9/1942: dựng nhà vuông (lợp lá) mở lớp GIÁO LÝ TÂN TÒNG.

3/8/1952: đặt viên đá xây nhà thờ mới.

20/12/1953: khánh thành nhà thờ kính Thánh Giuse.

1959-1960: Tu viện lên lầu ba. Xây thêm nhà nguyện nhà dòng. Xây Tòa báo ÐMHCG, Nhà sách, Nhà bán hàng tượng ảnh.

Back to TopBack to Top


4- TU VIỆN NAM ÐỊNH (12/6/1942)

Chiến tranh đang khốc liệt tàn phá Châu Âu. Nhóm quân phiệt Nhật Hoàng chủ trương lãnh đạo phong trào Á CHÂU CỦA NGƯỜI CHÂU Á, muốn châm lửa chiến tranh Hoa-Nhật bùng cháy khắp các quốc gia miền đông Thái bình dương. Chiến tranh Nhật-Mỹ đang lấp ló xuất hiện chung quanh Trân Châu Cảng ( Pearl Harbor, Hawaii). Vó ngựa và gót giày sắt quân đội Nhật Bản đang tung bụi vùng biên thùy Ðông đăng, Lạng Sơn. Thì gánh lo âu cũng đang đè nặng trên vai các đấng Bề trên DCCT. Nhưng đối với các ngài, nhu cầu tông đồ truyền giáo vẫn là mối lo âu hàng đầu. Ðã quyết định khai lập một tu viện tại tỉnh sợi vải, đông thợ thuyền, thì các ngài nhất tề thi hành, đặt trọn niềm tin nơi Chúa Quan phòng.

Tháng 10/1941: Cha MAURICE LÉTOURNEAU khởi công xây cất.

12/6/1942: khánh thành Nhà thờ và TU VIỆN BÀ THÁNH ANNA.

8/3/1943: bốn tháng sau chiến tranh Nhật-Mỹ bùng nổ (8/12/1943) các cha Canada bị giải về Thái Hà Ấp: cô lập, giam lỏng.

3/11/1944: Cha JEAN MARIE DONG bị máy bay Mỹ bắn chết trên xe hơi, trên đường Nam Hà.

19/12/1946: chiến tranh Việt-Pháp đột phá, 8 cha, thầy bị Việt cộng bắt đưa qua Thái bình. Tu viện bị cướp phá, ảnh tượng bị đập gaâỹ, Mình Thánh Chúa bị xúc phạm.

23/6/1947: sau khi các cha, thầy hồi cư Thái Hà Ấp, tu viện Nam định được nhường lại cho giáo quyền sở tại và biến thành cư xá.

Back to TopBack to Top


5- TU VIỆN ÐÀ LẠT (20/7/1952)

Tháng 1/1947, Cha Giám Tỉnh Canada THOMAS PINTAL sang thăm VN, trước khi lên đường hồi hương, theo đề nghị của Ðức Khâm mạng Tòa thánh, Ðức Cha AIUTI, Ngài ghé thăm tỉnh Ðalat. Trở về, lòng nặng tình cảm với cảnh anh đào và khí mát cao nguyên. Từ đó, Ngài nuôi ý định lập Trung tâm đào tạo cho tất cả mầm non Tỉnh Dòng tương lai.

1/7/1942: mua 35 mẫu Khu Lãnh địa Cam ly hạ. Tạm xây một dẫy nhà một tầng và một nhà nguyện bằng gỗ.

Tháng 6/1946: tạm cư tại Cité Decoux

Tháng 10/1946: Mở Nhà tập II. Cha ANTOINE LAPOINTE làm Giám đốc . Cha ALPHONSE TREMBLAY làm Linh giám.

17/9/1949: Cha A. TREMBLAY đang nhiệm kỳ Bề trên Giám Tỉnh Phụ (từ tháng 12/1947), vì thiết tha với tiền đồ Tỉnh Dòng VN, quyết định thực hiện nguyện vọng của Cha Thomas Pintal xưa, biến lãnh địa Cam ly thành NÚI CHÚA CỨU THẾ.

20/7/1952: khánh thành TU VIỆN CHÚA CỨU THẾ. Tu viện nằm trên đỉnh đồi, gần đồi PIN THOUARD cây số 6, trên đường đi Suối Vàng (Dankia). Lầu 4 tầng, toàn đá xanh, ngạo nghễ vươn cao khỏi rừng thông cổ thụ xanh mướt.

23/6 - 19/12/1954: khai giảng Nhà Tập II, do cha GÉRARD GAGNON làm Giám đốc và cha THOMAS CÔTÉ làm Linh giám.

1956 - 1961: địa điểm rất thích hợp cho những cuộc Hội Thảo và Tĩnh Tâm Hằng Năm của Hội Ðồng Giám Mục VN.

15/8/1960 - 2/2/1961: Nhà Tập II, do Cha GIACCÔBÊ ÐÀO HỮU THỌ làm Giám đốc và cha THOMAS CÔTÉ làm Linh giám.

Nhưng trong thập niên trước ngày định mạng 30/4/1975, nhiều lý do, cách riêng lý do sức khỏe, trục giao thông bất ổn, vấn đề giáo sư, đã khiến sinh hoạt Tu Viện Dalat giảm thiểu nhân sự và sút kém ảnh hưởng.

30/4/1975: bị nhà nước hoàn toàn chiếm đóng và biến thành CĂN CỨ TRUYỀN THÔNG lớn nhất miền Nam của Chính phủ nhân dân cộng hòa.

Back to TopBack to Top


6- TU VIỆN NHA TRANG (19/4/1959)

5/3/1959: Ngày bàn giao chủ quyền giữa cha Giám tỉnh Phụ, ALPHONSE TREMBLAY và ông Chủ BEAUREGARD. Khách sạn BEAURIVAGE, đẹp nhất Nha Trang và vùng duyên hải, đã trở thành Tu viện DCCT Nha trang. Ðức Cha PIQUET, MEP, Giám mục Ðịa phận Qui Nhơn (Bình định, Khánh hòa, Phan rang, Phan thiết), đã hoan hỉ đón nhận sự thành lập từ lâu mong ước. Các kỳ giảng cấm phòng và giảng đại phước, mười mấy năm trước đây, đã là nguyên do của mối thịnh tình đó.

19/4/1959: khánh thành và chính thức thiết lập TU VIỆN THÁNH CLÊMENTÊ

10/9/1959: từ Ðalat, Tập viện dời xuống Nha trang.

15/4/1961: Phòng khánh tiết của khách sạn cũ được tu chỉnh thành Nhà thờ.

15/3/1964: ngày lễ Thánh CLÊMENTÊ, Bổn mạng nhà dòng, khánh thành Tu viện mới, 4 tầng lầu quay ra mặt biển.

30/4/1945: miền Duyên hải đang tấp nập đoàn lũ kéo nhau tới làm việc kính ÐMHCG, tại 40, đường Duy Tân, và háo hức đón nghe các cha dòng ban lời Chúa, ngày thứ bẩy và Chúa nhật, thì biến cố định mệnh đã chấm dứt sứ mạng của Tu Viện một cách bạo tàn. Toàn khu và cơ sở nhà dòng bị chiếm đóng. Các cha thầy phải thu hẹp nếp sống trong một căn nhà ngoài tường thành Tu Viện, theo hoàn cảnh mới của Ðất Nước.

Back to TopBack to Top


7- TU VIỆN VŨNG TÀU (9/4/1956)

Khu đất mênh mông Chính phủ cho thuê 99 năm, bọc dài theo Quan lộ Vũng Tầu - Bà Rịa, cách Thánh phố Vũng tầu 5, 6 cây số, mặt trước là Phi trường Quân sự Pháp, mặt sau là Rạch Dừa.

2/9/1955: khởi công xây cất nhiều dẫy nhà trệt, lợp fébro-ciment, nhà dọc, nhà ngang, rộng lớn, dùng làm nhà ngủ, phòng cơm, lớp học, thư viện, nhà nguyện cho trên 300 chú Ðệ tử và quí cha thầy của nhà dòng.

2/2/1956: từ Huế, từ Saigon, Ðệ tử viện di chuyển vào Vũng Tầu.

9/4/1956: chính thức thiết lập ÐỆ TỬ VIỆN. Tổng số: 310 chú.

3/1/1961: khánh thành TU VIỆN THÁNH GIÊRAÐÔ.

Back to TopBack to Top


8- ÐỊA ÐIỂM TRUYỀN GIÁO FYAN (tháng 6/1958)

1/12/1955: Mở đồn điền Fyan (cam, café, chuối, rau và chăn nuôi) để gây nguồn lợi bảo lãnh những công cuộc đào tạo của Tỉnh Dòng VN. Người sáng lập là cha ANTOINE LAPOINTE.

12/121956: thành lập Trung Tâm Ðồng Bào Thượng. Một ngôi nhà cho các cha, thầy. Một cho các Nữ tu Bác Ái đến trợ lực. Hai trường học. Hai Lưu xá. Nam nữ biệt lập.

Tháng 6/1958: chính thức thiết lập ÐỊA ÐIỂM TRUYỀN GIÁO FYAN, THÁNH ANNA.

25/12/1960: khánh thành Nhà thờ dâng kính thánh Anna và bệnh xá của Trung Tâm Fyan.

Back to TopBack to Top


9- TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO CHÂU Ổ
QUÃNG NGÃI (QUI NHƠN)

Thành lập năm 1963 theo lời yêu cầu của Ðức Cha Phạm ngọc Chi, lúc ấy cai quản giáo phận Qui Nhơn. Trung Tâm Truyền Giáo Châu ổ gồm phần đất hai quận địa đầu tỉnh Quãng Ngãi về phía Bắc (Bình Sơn và Trà Bồng). Ngày lễ Mẹ Truyền Tin (25/3/1963) 3 vị thừa sai Cứu thế đầu tiên đến Châu Ổ là Cha Denis Paquette, Cha Ðỗ Văn Thừa và Thầy Marcô Ðàn. Kế tiếp trong những năm sau, nhiều anh em được sai đến tăng cường cho cánh đồng truyền giáo bát ngát này, 6 linh mục và 5 tu sĩ thường xuyên phục vụ tại đây. Tính đến năm 1970 (sau 7 năm hoạt động), Trung Tâm Châu Ổ có 6 địa điểm trực thuộc: Trà Bồng, An Ðiềm, Bình Liên, Bình Thiện, Bình Sa, và Lý Sơn (đảo cù lao Ré), mỗi nơi đều có nhà thờ, nhà xứ, và trường học và có Cha, Thầy thường trực tại chỗ. Riêng tại Trung Tâm Châu ổ đến cuối năm 1974 đã hoàn tất các cơ sở cần thiết về tôn giáo, văn hóa và xã hội: Nhà Dòng, nhà Xơ, ký túc xá nam, ký túc xá nữ, trường huấn nghệ, cư xá giáo sư, trường mẫu giáo, tiểu học, trung học đệ nhất đệ nhị cấp, hội trường và nhà thờ. Ngôi nhà thờ của Trung Tâm Truyền Giáo bị chiến tranh phá sập năm 1969 đã được tái thiết năm 1971, tân kỳ hơn.

Back to TopBack to Top


C- CHÍNH TỈNH


TRƯỚC NĂM 1975

Phụ tỉnh DCCT/Vn đã đến lúc trưởng thành. Khả năng tự túc về nhân sự và tài chánh vững chắc. "Tam thập nhi lập", mà nay tuổi DCCT/VN đã lên 39. Nên Bề Trên Tổng Quyền tại Rôma đã ban sắc lệnh nâng Phụ Tỉnh VN lên Chính Tỉnh, 27-5-1964, lấy tên là TỈNH DÒNG SAIGON. Bề Trên Giám Tỉnh đầu tiên là Cha Phanxicô Xavier Trần Tử Nhãn. So với các Phụ Tỉnh trên thế giới, về thời gian chuẩn bị để hóa thành Chính Tỉnh, thì Phụ Tỉnh VN liệt hạng thứ nhì, sau Phụ Tỉnh Bangalore (Ấn độ). Ấn Ðộ sau 34 năm, Việt Nam sau 39 năm. Lâu nhất là Phụ Tỉnh Wellington (New Zealand) sau 65 năm.

Trong năm 1963, so sánh về nhân sự với một số Tỉnh Dòng anh em vừa cựu trào vừa danh tiếng, thì Tỉnh Dòng VN còn đông đảo hơn nhiều Tỉnh Dòng khác.

Có những Phụ Tỉnh thành lập từ năm 1925 cho đến giờ vẫn y nguyên tình trạng, vì thiếu nhân sự : Phụ Tỉnh Caracas (Nam Mỹ).

Có những Phụ Tỉnh thành lập trước thế kỷ 20 (1884), 37 năm sau (1921) mới được chính thức thành Phụ Tỉnh, như Phụ Tỉnh Lima (Nam Mỹ).

Trở lại sinh hoạt của Tỉnh Dòng Việt Nam, sau nhiều cuộc Hội Ðồng Toàn Tỉnh để hoạt định đường lối. Tỉnh Dòng VN đã mạnh mẽ xu hướng về Tông Ðồ Dân Ngoại của Thánh Phaolô. Vài thí điểm đã thiết lập trước đây được khuếch trương tăng cường như Châu Ổ, Quảng Ngãi, thuộc địa phận Qui Nhơn. Pleikly (gần Pleiku) thuộc địa phận Kontum. Phần đông quí Cha Canada hướng về đồng bào Thượng tại Fyan (Tuyên Ðức).

SAU NĂM 1975.


Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đang đà phát triển mạnh thì tình hình chiến tranh và chính trị thuận lợi cho Cộng Sản nên từ 30-4-1975 Tỉnh Dòng VN đã phải thi hành chính sách "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài"...

Một số anh em đã quyết định di cư ra nước ngoài (8 Cha, 5 Thầy, 1 học viên), liên hiệp với số 12 Cha và 4 Thầy từ trước đã ở ngoại quốc, lập thành một phần Tỉnh, tạm gọi là Tỉnh Dòng VN Hải Ngoại, đặt dưới quyền Cha Ðại Diện Giám Tỉnh Saigòn là Cha Trần Tử Nhãn (Montréal, Canada) và phân chia như sau: ở Pháp, 10 Cha và 1 Thầy; ở Rôma 1 Thầy; ở Nhật 2 Thầy; ở Mỹ 8 Cha, 5 Thầy, 1 học viên.

Phần Anh Em ở lại quê nhà, vì thể lệ kiểm soát gắt gao, vì chính sách kinh tế khắt khe, nên đã phải tản mát đi nhiều nơi, lập thành nhóm nhỏ để mưu sinh lao động và canh tác để tiếp tục nếp sống tu trì và hoạt động tông đồ. Tinh thần rất cao, đức độ rất lớn, đáng cảm phục vô cùng.

Back to TopBack to Top


III- CÔNG CUỘC ÐÀO TẠO

A- ÐỆ TỬ VIỆN:

"Tốt giống tốt mạ, tốt mạ tốt lúa"

Ngay buổi đầu, đi đôi với việc đặt móng nhà dòng, các vị thừa sai tiền bối đã để tâm lo lắng đặt nền tảng tương lai cho Tỉnh Dòng. Các ngài đã sớm lập nhà tuyển mộ kêu gọi, đào tạo một giòng giống hậu lai hùng hậu, năng khiếu, đức hạnh và hiệu lực.

Back to TopBack to Top


1- Ðệ Tử Viện Huế (2-9-1929).

Thường tình, sự thiết lập một địa điểm, dùng làm căn cứ tuyển mộ ơn kêu gọi làm linh mục dòng tu, trong một địa phận, hằng gây ác cảm và cự tuyệt nơi hàng Giáo phẩm địa phương, vì sự cạnh tranh giữa Ðệ tử viện và Tiểu chủng viện, giữa Học viện và Ðại học viện. Như sẽ thấy xẩy ra ở Hà nội và Saigon.

Nhưng tại Huế, không những Ðức Khâm Mạng Tòa Thánh, mà cả Ðức Giám Mục Ðịa Phận dễ dàng ban phép và khuyến khích lập nah tuyển mộ ơn kêu gọi thích hợp với công cuộc tông đồ của dòng. ÐỆ TỬ VIỆN DCCT đã được xây dựng ngay trong khu vực Chánh tòa.

Cha EUGÈNE LAROUCHE (Cố Hiền) từ ban đầu, đã được chỉ định và nắm trọn quyền tổ chức Ðệ Tử Viện, theo kiểu mẫu Ðệ Tử Viện THÁNH AN PHONG, đang thịnh hành tại Tỉnh Dòng Canada.

5/9/1927: Trong khu vườn cụ Ðốc Sắc, gần ngôi nhà các Cha đang ở, một căn nah lá, vách tre, nền đất, đã được dựng lên làm nôi sinh cho 8 chú Ðệ tử tiên khởi. Trong số này có các Cha: TRẦN HỮU THANH, NGUYỄN QUANG TOÁN, NGUYỄN QUANG KIÊM, Ông LÊ QUANG BỬU (Viejo).

1/9/1929: tổng số 27 chú (8 cũ, 2 chủng sinh, 17 mới).

8/9/1929: Khánh thành nhà dòng mới. Từ nhà lá, các chú theo các cha, thầy về ở nhà dòng, chia phòng tầng dưới với các ngài.

2/9/1929: khánh thành ÐỆ TỬ VIỆN (Công việc xây cất khởi sự tháng 3/29). Ngôi lầu 2 tầng (rưỡi). Chính thức khai giảng niên học đầu tiên 45 chú: 45 tiền phong đạo quân CỨU THẾ, sẽ thực thụ mang tên CỨU THẾ TIỀN PHONG. Cha Larouche đã có linh ứng thiên tài, áp dụng và thích nghi phương pháp đào tạo của Phong trào Hướng đạo của Baden Powell vào công cuộc giáo dục tại Ðệ tử viện. Ðể nói lên sự dị biệt và sự châm chước, tên Hướng đạo được hợp thời hợp lý đổi thành TIÊN PHONG.

Niên học 1934-1935: Tổng số đệ tử đã lên tới 150 chú, chia làm 8 lớp, từ lớp tám đến lớp nhất: 2 lớp tiểu học và 6 lớp trung học.

1935-1936: Chương trình khuếch trương Ðệ Tử Viện khởi sự với công việc cất lên lầu ba, xây một Hội trường (tạm gọi là phòng chơi), chờ đợi thế thuận tiện sẽ tiếp tục xây lên đó một ngôi nhà nguyện, cùng với tòa lầu ba tầng nối dài tòa nhà hiện có.

2/2/1956: nhưng thời thế biến chuyển bất lợi, Huế thành Vùng trái độn. Ðệ Tử Viện phải di chuyển vào Vũng tầu.

Sau hè 1966: trục giao thông Saigon - Vũng tầu bất an, Ðệ Tử Viện dời lên Chợ lớn, đường Nguyễn Tri Phương, sau nhà thờ Ngã Sáu. Tạm trú nơi đây, chờ việc Kiến thiết Trung tâm Giáo dục của Tỉnh Dòng tại Thủ đức hoàn thành.

Tháng 9/1969: định cư tại Thủ đức.

30/4/1975: nhà nước hoàn toàn chiếm đóng Trung Tâm. Ðệ Tử Viện đã biến thành Bệnh Viện.

Back to TopBack to Top


2- Tiểu Ðệ Tử Trường 2-9-1929.

Về mặt địa dư, đất Việt lợi về chiều dài. Nhưng vì lẽ đó việc đi lại có phần khó khăn và tốn kém. Ðể giải quyết vấn đề cách trở và phí tổn ấy, Bề Trên quyết định lập ở hai miền xa xôi Bắc, Nam, mỗi miền một trạm tiếp liên, đặt tên là Tiểu Ðệ Tử Trường, nhận các em tuổi Tiểu học, học xong chương trình Tiểu học sẽ được nhập Ðệ Tử Viện.

    a) Tiểu Ðệ Tử Trường Hà Nội 1-7-1945:

1/9/1930: Lập thí điểm Tiểu Ðệ Tử Trường. Cha Pamphile Courure (Cố Sự) làm Giám đốc.

24/3/1931: Mới sinh được 7 tháng, đã bị giải tán, vì Ðức Cha Gendreau chống đối, sợ cạnh tranh với Tiểu Chủng Viện Kẻ Sở.

1/7/1945: Ðức Cha Chaize (Mgr Thịnh) cho phép Cha Alexis Trépanier mở lại Tiểu Ðệ tử trường, đặt tại khu nhà giặt nhà dòng.

1974: Tạm chiếm (để canh gác) ngôi dinh thự rộng lớn Hoàng Gia Luận bên dưới Chùa Ðống Ða.

26/12/1950: Học Viện di tản vào Ðà Lạt. Tiểu Ðệ Tử chiếm Học viện được tu chỉnh cho hạp khuổn khổ Tiểu Ðệ Tử Trường.

14/7/1954: Ðang sinh hoạt tốt đẹp, sự bất ngờ đã đến, tàn nhẫn ... Ðành phải bỏ đi hết. Di cư vào Huế và Saigon.

    b- Tiểu Ðệ Tử Trường Saigon. tháng 9, 1947.

26/12/1945: Thử nhận ngoại trú 6 em nhỏ: 4 Ấn độ và 2 Nam kỳ. Cha Phêrô Hoàng Yến và Phêrô Nguyễn Xuân Lộc đảm trách. Nhưng sau một thời gian ngắn phải thải hồi,

Tháng 9, 1947: Cha Henri Bạch Văn Lộc biến khu đất hoang, bên hông nhà thờ, bên kia đường Bà Huyện Thanh Quan, thành sân chơi. Mép sân có sẵn ngôi nhà trệt, tường gạch mái ngói, sửa làm nhà ngủ. Cất nối thêm ngang đầu nhà ngủ một dãy nhà lợp lá, ngăn tre làm 3 lớp học. Cạnh đầu bên kia, một nhà nguyện vách gỗ xanh lục, mái lợp fibro-cément. Xa nữa là ngôi nhà vuông rộng lớn chia đôi, nửa trong làm phòng học chung, nửa ngoài nhà chơi và hội trường. Năm 1956, Tiểu Ðệ Tử Trường Saigon hoàn toàn sát nhập vào Ðệ Tử Viện Vũng Tàu.

    c- Tiểu Ðệ Tử Trường Vĩnh Long. 1970.

Năm 1970, Cha Lê Văn Lang Félix, nhận trách nhiệm mở Tiểu Ðệ Tử Trường Vĩnh Long cho con em miền Lục tỉnh, sau 4 năm hoạt động kiến hiệu, năm 1974 được lệnh đóng cửa vì lý do kinh tế.

    d- Tiểu Ðệ Tử Trường Huế .

Từ năm 1955-1975, Ðệ Tử Viện Huế đã hóa thành Tiểu Ðệ Tử Trường dành cho các em các lớp Tiểu học vùng Trị Thiên Quảng Ðà. Năm 1975 bị nhà nước chiếm đóng hoàn toàn.

Back to TopBack to Top


B- TẬP VIỆN. (8-12-1929)

    1- Tập Viện Ca Sĩ (Choriste).

Các Ðệ tử, sau lớp Tú Tài, ai được tiếp tục thì vào Tập viện. Một năm tu thử, tu luyện, học hỏi Luật Lệ DCCT, học tập Ba Lời Khấn: Khó nghèo-Khiết tịnh-Vâng phục. Năm Tập viện khai mạc bằng lễ nghi Mặc Áo Dòng và kết thúc bằng lễ nghi Khấn Dòng tạm ba năm.

    2- Tập Viện Trợ Sĩ (Auxiliaires / Convers / Lais).

Sau một thời gian dài ngắn tùy người, tùy cảnh, sống thủ trong một tu viện, các Thầy được gọi vào Tập viện. Cũng thời gian một năm, cũng lễ nghi mặc áo dòng khai mạc, các Thầy chuẩn bị khấn trọn đời trong Dòng sau một năm Tập Viện II.

25/3/1929: Chính thức thiết lập Tập viện tại Huế. Cha Hubert Cousineau Tu viện Trưởng, kiêm Giám Tập.

8/12/1929: Khai mạc năm Nhà Tập thứ nhất. Lễ mặc áo dòng cho 7 Thầy trợ sĩ.

8/12/1930: Lễ khấn dòng của 5 Thầy còn lại. Khai giảng năm Tập Viện thứ nhì cho các Thầy Trợ sĩ.

14/4/1932: Tập viện được dời ra Thái Hà Ấp (Hà nội).

15/8/1934: Lễ khấn dòng của 2 Thầy Ca sĩ đầu tiên. Một còn lại, Cha Giacôbê Nguyễn Trọng Cân. Lễ mặc áo dòng và khai mạc Tập viện Ca sĩ năm thứ hai của lớp đầu Ðệ Tử Viện Huế.

4/1/1951: Di chuyển vào Ðalat, cùng với Học viện.

10/9/1959: Dời xuống Nha trang.

Từ 1975: Tập viện dùng Tu viện Saigon làm địa điểm tiếp liên với Cha Giám tập đương nhiệm là Cha Giacôbê Ðào Hữu Thọ. Lúc này, mọi Tập sĩ phải tự lực cánh sinh bằng lao động và canh tác.

Back to TopBack to Top


C- HỌC VIỆN (8-11-1935)

Sau năm Tập viện, các Thầy Ca sĩ qua Học viện, học 2 năm Triết lý và 4 năm Thần học, Giáo luật, Kinh Thánh, chuẩn bị chịu chức linh mục. Hết 2 năm Triết và Thần học năm thứ nhất, ai tiếp tục thì dâng lời khấn trọn đời trong Dòng sau 15 ngày cấm phòng ngặt.

Lớp Học viện đầu tiên đã khai giảng 11-11-1935 tại Tu viện Thái Hà, lầu nhất. Bề Trên đem thí nghiệm chính sách Hòa đồng hay Ðồng hóa Việt-Canada tại Học viện. Ðể sớm hòa hợp tính tình, để mau quen thuộc Văn hóa Việt Nam, để rút ngắn thời gian học tiếng Việt sau khi thụ phong linh mục, Bề trên đã nẩy sinh sáng kiến gửi một số Thầy Học Viện Canada sang nhập học với Các Thầy Học Viện Việt Nam ngay từ lớp Triết, mỗi năm một số Cha, Thầy.

8/11/1935: 8 Thầy Học viện Canada qua Việt Nam. Sẽ tăng cường thêm 4 nhóm nữa: 1936, 7 Thầy; 1940, 3 Thầy; 1947, 2 Thầy.

11/11/1935: Khai giảng khóa Học viện năm thứ nhất. Cha Pamphile Couture làm Giám học.

26/12/1950: Vì tình hình chiến tranh Việt Pháp khẩn trương, Học viện phải di chuyển vào Ðà Lạt, tạm trú tại Cité des Pics, cũng mang tên Cité Decoux.

Tháng 7, 1951: Chính phủ Pháp đòi lại Cité Decoux làm khu Ðại học. Học viện và Tập viện dời về ngôi nhà 4 tầng đang xây giở.

20/7/1952: Khánh thành trọng thể Tu viện Học viện Chúa Cứu Thế.

Năm 1970: Vì nhiều lý do khẩn thiết, cách riêng lý do giao thương bất ổn, Học viện định cư tại Thủ Ðức, trung tâm đào tạo của Tỉnh dòng vừa hoàn thành.

21/6/1975: Sau khi nhà nước hoàn toàn chiếm đóng, Học viện đã đào tạo cho Tỉnh Dòng 10 linh mục. Học viện cũng như Tập viện đã phải chọn Tu viện Saigon làm điểm tựa liên lạc.

Back to TopBack to Top


IV- HOẠT ÐỘNG TÔNG ÐỒ

A- VIỆC ÐẠO ÐỨC KÍNH ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP.

Từ năm 1863 (đúng 100 năm trước Sắc lệnh thành lập Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (1964), năm kỷ niệm Ðức Giáo Hoàng Piô IX trao bức ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho Dòng Chúa Cứu Thế với sứ mạng truyền bá việc sùng kính tước hiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp, thì danh hiệu Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp gắn liền với Dòng Chúa Cứu Thế. Nhờ ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đặt trong các nhà thờ Dòng hoặc trong các nơi giảng tuần cấm phòng, đại phúc, công cuộc tông đồ Dòng Chúa Cứu Thế mỹ mãn thành công.

Tu viện vừa khánh thành xong, ở Huế (1929), ở Hà nội (1931), ở Saigon (1933, 1940), (tạm kể những tu viện cựu trào nhất của Tỉnh Dòng VN) một căn phòng lớn đã dành làm nhà nguyện để mở tuần cửu nhật kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Phong trào truyền bá ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, việc đạo đức cửu tuần kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp mỗi thứ Bảy, được hưởng ứng, phổ biến, lan tràn khắp nơi, trong mọi tầng lớp xã hội. Giáo hữu Việt Nam vốn đã sẵn lòng mộ mến Ðức Bà Maria, nay bị tước hiệu Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp lôi cuốn, lũ lượt kéo nhau đi viếng "Ðền Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp", không quản xa xôi, mệt nhọc, nắng nôi, mưa gió. Quang cảnh chung quanh nhà thờ Dòng mỗi ngày thứ Bảy quanh năm vui vẻ náo nhiệt như những ngày đại hội. Ðông quá, nhà nguyện hóa chật hẹp, không đủ chỗ, nên việc khuếch trương nhà nguyện đã thành nhu cầu khẩn thiết. Nhà Dòng nào cũng tính chuyện xây cất nhà thờ.

Ngày 3-1-1932, nhà Huế đã dựng một ngôi nhà thờ, mép đầu vườn sau, dài tám gian. Rồi năm 1962 đã cất thêm một thánh đường nguy nga đồ sộ, tân kỳ theo kiến trúc Á Ðông, mới đáp ứng nhu cầu đạo đức.

Năm 1964, nhà Nha Trang đã thay thế nhà nguyện thấp bé ở giữa vườn bằng gian phòng tiếp tân cao rộng của khách sạn Beaurivage cũ.

Năm 1935, nhà Hànội đã đi tiên phong xây cất một ngôi đền thờ rộng lớn để dung nạp lớp sóng người từ khắp các Tỉnh chung quanh tuôn đến dự vịêc đạo đức kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, sáng 2 lượt, chiều 4 lượt, đọc kinh nghe giảng và chầu. Chương trình nầy được áp dụng cho tất cả các nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế.

Tại Saigon, việc đạo đức kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp bành trướng quá nhanh chóng. Từ hai trăm, ba trăm người lên tới hai ngàn người. Trước năm 1954, nghĩa là trước thời buổi Bắc việt di cư vào Nam, mỗi tuần có hai ngày làm việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thứ Tư và thứ Bảy. Thứ Tư dành riêng cho quí bà Ấn độ, phần đông không rành tiếng Pháp, nên các kinh đọc theo bản Tamoule (thổ ngữ Ấn độ). Ngày thứ Bảy, có 3 việc đạo đức: hai buổi đọc kinh toàn tiếng Việt, một buổi đọc kinh bằng tiếng Pháp dành riêng cho ngoại kiều. Sau năm 1952, có 5 việc đạo đức, tất cả bằng tiếng Việt.

Back to TopBack to Top


B- GIẢNG CẤM PHÒNG VÀ ÐẠI PHƯỚC:

Ðây là mục đích chính của Dòng Chúa Cứu Thế. Ðem ơn cứu chuộc đến cho tất cả mọi người, nhưng cách riêng cho những linh hồn cô đơn tất bạt không kẻ chăn dắt.

Ngay những năm đầu, song song với việc xây cất và học tiếng, các Cha đã xúc tiến công việc giảng cấm phòng và đại phước trong các họ đạo. Nhà Hànội khánh thành ngày 12-9-1931, thì đầu tháng 7-1932 đã khai mạc hai tuần đại phước tổ chức trong thành phố. Ở Huế, công việc giảng cấm phòng đại phước được thực hiện sớm hơn, vì các Cha đến đây trước, có thì giờ chuẩn bị sẵn sàng hơn. Ở Saigon, ngay năm 1933, hai Cha Lapointe và Blais đã rảo khắp miền Nam, từ Nam vang ra tới Qui nhơn, đi giảng mấy tháng liền trong các họ đạo. Lối giảng mới lạ, hấp dẫn, sốt sắng. Các Cha Sở khoái chí, đua nhau viết thư mời. Bổn đạo hứng thú, cảm động, bỏ công ăn việc làm đến nghe suốt tuần.

Thập niên 1950-1960, với sự tăng cường của một số Cha Việtnam, là thời kỳ vàng son của công cuộc giảng đại phước. Từ năm 1960, phong trào đại phước canh tân xuất hiện, chương trình đại phước đổi mới gồm ba giai đoạn: Tiền phước, đại phước, hậu phước. Nhưng cuộc thí nghiệm không được tiếp nối vì nhiều lý do, cách riêng lý do kinh tế: gây quá nhiều phí tổn cho các Cha sở tại.

Thập niên 1960-1970, theo tinh thần Cộng Ðồng Vaticanô II, việc giảng đại phước đổi hướng: Tất cả cho lương dân, cho đồng bào ngoài công giáo. "Ði vào giữa lòng dân". Ðịa điểm Châu Ổ (Quảng ngãi) và thí điểm Pleikly (Pleiku) cho đồng bào Việt Nam, địa điểm Fyan cho đồng bào Thượng thành công, tương lai hứa hẹn. Phong trào đào tạo giảng viên giáo lý được đẩy mạnh và sâu rộng. Hiện cảnh sau 1975 minh chứng cách thực tiễn và hùng hồn: chính sách học tập giáo lý thật là hữu lý, chính yếu và hữu hiệu.

Back to TopBack to Top


C- THƯ VIỆN

Một hình thức đắc lực và thực tế để lôi cuốn quần chúng lương dân là mở Thư Viện. Sáng kiến này đã được thực hiện ngay sau ngày khánh thành nhà Huế. Bên cạnh nhà khách, phía bên vườn sau, một phòng hai gian đã dành làm Thư Viện, đặt tên là Thư Viện Kitô Vua. Dãy tủ sách đặt chung quanh phòng đã sớm được những bàn tay trẻ chìu chuộng hằng ngày để đọc, để học. Nhu cầu của độc giả ngày càng gia tăng.

Năm 1935, Cha Patrice Gagné (Cố Lợi) Giám quản Thư viện đã khuếch trương ảnh hưởng bằng việc xây cất một Thư Viện biệt lập, có những gian phòng rộng rãi mát mẻ. Chi nhánh Thư Viện gồm ngôi nhà giải trí hình vuông rộng rãi, và cư xá Nguyễn Trường Tộ để tiếp đón những học sinh nghèo ở các tỉnh xa đến. Năm 1937, bên cạnh thư viện mọc lên một hội trường tân kỳ và đồ sộ bậc nhất ở Huế có lẽ cả Ðông Dương. Rộng lớn như một nhà máy ráp máy bay. Mà thật nó là sườn sắt của một nhà máy ở Hải phòng rỡ về lắp lại y nguyên. Công dụng hội trường này rất đa diện: văn nghệ, màn bạc, thể thao, đủ chỗ để thao diễn, đủ ghế ngồi cho từng ngàn khán thính giả. Hội trường độc đáo: L'ACCUEIL. Chưa được cải tên Việt, thì ngày 30-4-1975 chứng kiến cảnh thay ngôi đổi chủ.

Năm 1931, ở Hànội, một căn phòng rộng hai gian đã dành làm cho Thư Viện. Nhưng Thư Viện nhà Thái Hà không được chiếu cố hăng nồng như Thư Viện Kitô Vua ở Huế, vì lẽ nhà dòng ở xa thành phố quá. và thành phố đã có một thư viện quốc gia đồ sộ rồi.

Back to TopBack to Top


D- NGUYỆT SAN ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP.

Tờ báo không chỉ là cơ quan ngôn luận. Nó là một tiếng nói sâu đậm, bền bỉ. Tiếng nói đây là tiếng nói của một Hiền Mẫu mang tên Maria Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tờ báo Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp nối tiếp việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Cha Joseph Laplante (Cố Thanh) nhận làm chủ bút. Từ ngày 1-7-1935 Báo Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp cứ đà gia tăng không ngừng. Có những độc giả mua báo chỉ vì tấm ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp in toàn trang bìa. Báo in tại Trung Hòa ấn quán (nhà in của nhà Chung Hànội). Vài năm sau, tờ nguyệt san đã được cải tiến và thêm số trang nhờ sự cộng tác của Cha Vũ Ngọc Bích, Cha Hồng Phúc và nhà văn Nguyễn Bích Vân.

Năm 1954 di cư vào Saigon, tòa báo đã được xây cất lộng lẫy, có nhà in riêng, máy in tối tân: Anphong ấn quán; nhà xuất bản có hạng: Anphong Thiện bản. Trọng năng ấn phẩm là tái bản các tác phẩm của Thánh Anphongsô đã xuất bản ngoài Hànội từ năm 1933, tờ Tuổi Hoa thu hút đủ hạng tuổi. Xin ghi để nhớ: Cha Trần Hữu Thanh tác giả là những tập "Có người sẽ nói", Cha Vũ Minh Nghiễm tác giả Dừng, Sống và Vươn. Cha Nguyễn Văn Bảo dịch hạnh Thánh Clêmentê DCCT, Cha Lê Văn Thi sáng tác cuốn "Từ Say Rượu đến Say Chúa", Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch thuật toàn bộ Thánh Kinh, Cha Gérard Gagnon dịch bằng thơ Bộ Thánh Vịnh, và năm 1965 đã xuất bản toàn Bộ Thánh Kinh, Cha Sylvère Drouin (Cố Doanh) đã dịch ra tiếng Thượng toàn Bộ Thánh Kinh, sáng Lễ Giáo Dân, Sách Hát, một cuốn Tự Ðiển 8000 chữ, hai cuốn Truyện Cổ Tích Thượng.

Back to TopBack to Top


E- GIA ÐÌNH MỤC VỤ.

Cha Hồng Phúc, con người giaù sáng kiến tông đồ, lâu năm theo dõi hình thức tông đồ trong các gia đình tại Âu châu, dựa theo những tổ chức, phong trào tân tiến cải thiện, thánh hóa gia đình, đã mở những khóa Gia Ðình Mục Vụ, Dự Bị Hôn Nhân, với mục đích hướng dẫn và tiến hóa các gia đình công giáo và ngoài công giáo. Thời gian mỗi khóa là 6 tháng, mỗi Chủ nhật một lớp. Tất cả mọi vấn đề liên quan đến gia đình đều được giảng giải cặn kẽ, với sự cộng tác nhiệt thành của những nhà chuyên môn giáo dục, Bác sĩ, Giáo sư Ðại học, Kỹ sư chuyên nghiệp, những nhà Thần học, Giaó luật và Kinh Thánh lão thành và những bậc đàn anh giàu kinh nghiệm bản thân. Trung tâm hoạt động hết sức thành công, ảnh hưởng sâu rộng, cho đến năm 1975.

Back to TopBack to Top


F- BẢO VỆ LUÂN LÝ.

Ði đôi với Gia Ðình Mục Vụ, có Phong Trào Bảo Vệ Luân Lý do Cha Nguyễn Hoàng Yến sáng lập. Nhằm cải thiện đời sống xã hội, diệt trừ tệ đoan tứ đổ tường, kiểm duyệt phim ảnh và sách báo phản luân lý. Phong trào hoạt động khắp nơi, cách riêng trong những phòng trà, rạp hát, nơi giải trí công cộng. Phong trào ráo riết vận động nơi Chính phủ, Quốc hội, Cơ quan Hành chánh lập Hiến Chế Bảo Vệ Luân Lý.

Back to TopBack to Top


G- HỌC ÐƯỜNG.

Ảnh hưởng học đường rất rộng rất sâu. Dòng Chúa Cứu Thế xúc tiến công việc mở trường học trong khu vực nhà Dòng. Ở Hànội, Cha Patrice Gagné đã mở trường Thái Hà. Ở Huế, Cha Trần Hữu Thanh lập trường Việt Hương. Ở Saigon, Cha Lê Trung Nghĩa xây Cứu Thế Học Ðường. Ở Ðàlạt, Cha Alexis Trépanier dựng trường Minh Ðức. Ðàng khác, phong trào Ðại Học Tôn Giáo khai sinh (Vạn Hạnh, Hòa Hảo), Cha Bạch Văn Lộc đề xướng và thiết lập Ðại Học Minh Ðức với đầy đủ phân khoa của một Ðại Học cổ điển.

Back to TopBack to Top


H- MỤC VỤ GIÁO XỨ.

Dòng Chúa Cứu Thế rất đố kỵ chức Giám mục và Cha Xứ (Cha Sở). Luật dòng cấm ngặt khuynh hướng đó, vì những chức vụ ấy giảm thiểu lực lượng và khả năng tông đồ thừa sai cho người nghèo. Nhưng luật Dòng nhiều khi phải nhượng bộ trước quyết định của Tòa Thánh. Cuối năm 1938, nhà Dòng Hànội đã hóa thành nhà xứ Thánh Anphong, nhà xứ Thái Hà. Năm 1958, tu viện Huế biến thành họ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Năm 1960, Tu viện Sàigòn trở thành xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tu viện Ðàlạt lãnh xứ Tùng Lâm. Mọi hoạt động tông đồ cổ truyền đều đổi sang hình thức sinh hoạt hội đoàn, trường ốc, và lớp giáo lý như các Họ Ðạo.

Back to TopBack to Top


I- LẬP TRẠI DI CƯ.


a) Bảo Lộc :

Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1954 (năm chia đôi đất nước), đồng bào ngoài Bắc ồ ạt di cư vào Nam. Cha Patrice Gagné được cử đi theo đoàn người di cư. Vào tới Nam, địa điểm được chỉ định là Blao, một vùng rừng hoang, thế mà chỉ sau hai tháng tạm trú dưới lều vải khổng lồ, đoàn giáo dân Thái Hà di cư đã có mỗi gia đình một ngôi nhà và một mảnh vườn. Trại di cư này được xếp theo hình Bát Quái nhà thờ ở lô giữa, mặt tiền nhìn ra quốc lộ thẳng ngay cổng trại. Một trại di cư kiểu mẫu. Một ít lâu, Cha Gagné bàn giao lại cho Xứ Hànội.

b) Bình Ngãi :

Ðầu năm 1973, vì nhu cầu kinh tế thúc bách, hơn 5000 đồng bào thuộc Trung Tâm Truyền Giáo Châu Ổ (Quảng Ngãi), trong đó gần một nửa là người Lương, tham gia chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp của chính phủ di dân vào Bình Tuy, địa điểm "Ngã Ba Bình Tuy" thuộc quận Hàm Tân. Anh em tại Châu Ổ thuận để một cha lo việc tinh thần cho số người ra đi này. Ðầu tháng 4 năm 1973 đoàn người tới đất mới và bắt tay vào công việc xây dựng. Công việc tiến triển mau lẹ. Lễ kiện toàn khu định cư đã được long trọng tổ chức ngày 9 tháng 3 năm 1975 cùng với việc khánh thành các cơ sở tôn giáo, văn hóa, y tế, giáo dục. Ngày nay khu định cư vẫn còn, và một anh em linh mục Dòng Chúa Cứu Thế vẫn kiên trì hiện diện ở đó để phục vụ Hội Thánh và đồng bào trong hoàn cảnh mới.

Back to TopBack to Top


J- NHẠC VÀO ÐỜI

Mùa Hè, học viện chia từng nhóm tùy thích đi nghĩ hè. Có nhóm đi thí nghiệm đời sống thợ thuyền, lao công. Có nhóm đi quan sát và tập sự tông đồ dân ngoại ngoài Châu Ổ, trên Pleikly, Fyan. Có một nhóm nẩy sáng kiến "nghỉ hè tại nhà với nhạc nhịp nhàng hát vang vang"... Năm 1963, Ban Alliluia ra đời với tập hát "Nhạc Vào Ðời", nhạc và lời của Sĩ Tín, Thành Tâm, Hoàng Ðức ... Một lối hoạt động tông đồ hấp dẫn vui tươi và hữu hiệu.

Back to TopBack to Top


K- LỚP GIÁO LÝ TÂN TÒNG (1955)

Không kể các Sở đặt tại vùng đông đồng bào lương dân, nơi đấy dạy gaió lý và sinh hoạt thường xuyên đã đành, nhưng trong mỗi tu viện, ngay buổi đầu, luôn có Cha hoặc Thầy dạy giáo lý cho người lớn tại phòng khách. Có người học giáo lý rửa tội hôn phối, có cả một gia đình xin dọn mình chịu phép rửa tội vì đã được một ơn như ý. Vì số người theo học càng ngày càng đông nên cách riêng trong 3 nhà, Huế, Sàigòn, Nha Trang phải mở những lớp, gọi là lớp Giáo Lý Tân Tòng. Ðặc biệt ở Chợ Lớn, Cha Lucien Olivier (Cố Hậu) đã chịu khó học tiếng Quan thoại để dạy giaó lý cho Hoa kiều (1959). Chỉ trong vòng 6 tháng mà ngài đã rửa tội cho 600 người.

Back to TopBack to Top


L- LƯU XÁ VÀ KÝ NHI VIỆN FATIMA BÌNH LỢI.

Cũng Cố Hậu (Lucien Olivier) tuy đã mệt mỏi ngồi tòa giải tội cả ngày, mỗi ngày, trong nhà thờ, ngài không quản khó nhọc, chạy ngược xuôi đây đó để thăm viếng và giúp đỡ những người mẹ nghèo đông con dại bị chồng bỏ rơi hoặc chồng "vô danh" ...

Bị chống đối, chỉ trích mặc kệ. Vì thương hạng người tất bạt đó, ngài đội nón chống gậy đi quyên tiền, viết báo, gửi thư đi ngoại quốc xin tiền thuê nhà trong thành phố, dựng căn nhà gần cầu Bình Lợi, tạm gọi là Lưu xá, và ký nhi viện Fatima, cho mẹ con tạm trú trong thời gian học nghề và ổn định tình trạng. Ngài khiêm tốn công nhận, nếu có thành công thì cũng nhờ ơn Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Cả Giuse, những người lạ mặt thôi.

Back to TopBack to Top


M- BIỆT THỰ THÁNH TÂM ÐÀLẠT (1955)

Cha Gérard Gagnon, (Cố Nhân) đã được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam Trao cho trọng trách tổ chức Trung Tâm Tĩnh Tâm và Huấn Luyện Mục Vụ và Tiến Hành Công Giáo, địa điểm thuận tiện là Biệt Thự Thánh Tâm ở Ðàlạt. Trung tâm đã được tổ chức rất chu đáo và hữu hiệu. Trung tâm đã đào tạo một số đáng kể thành phần cán bộ nòng cốt cho mỗi hoạt động Tiến Hành Công Giáo, địa phận cũng như toàn quốc. Chỉ trong thập niên 1955-1965, trên dưới 1000 linh mục bản xứ và ngoại quốc đã theo dõi cuộc Tĩnh Tâm.

Back to TopBack to Top


N- VĂN PHÒNG TUYÊN ÚY

a) Hội Ðạo Binh Ðức Mẹ (Legio Mariae) :

Từ 1952-1962, Cha Albert Raymond (Cố Mẫn) đã được cử làm Tuyên Úy hội Ðạo Binh Ðức Mẹ của địa phận Huế. Trong thời gian đó, Ðạo Binh Ðức Mẹ đã phát triển mạnh.

b- Phong Trào Liên Minh Thánh Tâm :

Từ trước ngày di cư vào Nam, ở xứ Thái Hà, Cha Giacôbê Ðào Hữu Thọ đã hăng say hoạt động cho Phong Trào Liên Minh Thánh Tâm. Cùng với Cha Gerard Gagnon, ngài là vị sáng lập Phong Trào từ năm 1948. Sau năm 1954 ngài đươc bổ nhiệm Tổng Tuyên Úy toàn quốc của Phong Trào. Hằng tháng, Phong Trào xuất bản tờ Liên Minh Thánh Tâm làm cơ quan liên lạc. Sau này tờ Liên lạc đã trở thành Nguyệt San Liên Minh Thánh Tâm, chính ngài là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút.

c- Nha Tuyên Úy Quân Ðội

Năm 1955, vì nhu cầu mục vụ đòi hỏi trong hàng ngũ quân nhân, một số Cha Dòng được đặc phái nhập quân đội với tư cách Tuyên úy. Cha Phêrô Phan Phát Hườn được ủy nhiệm Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Quân Ðội và Chủ Nhiệm Nguyệt San Tinh Thần, cơ quan liên lạc của quân nhân công giáo. Trong khu vực Nha Tuyên Úy Công Giáo, ngài đã xây một ngôi trường ốc ba tầng, đặt tên là trường Tinh Thần, dành cho con em toàn thể quân nhân bất phân tôn giáo. Cũng trong cương vị quân đội, Cha Giuse Nguyễn Tự Do, Tuyên Úy vùng Thủ đô, đã sáng lập Trung Tâm Âm Thanh Ánh Sáng (ATAS) dùng điện ảnh và băng nhạc quảng bá Tin Mừng của Chúa.

Back to TopBack to Top


V- "MŨ THIÊN TRIỀU ÐÃ DỌN SẴN..."

Sừng sững cây đứng giữa trời

Một cành lá rụng trăm chồi mọc lên.

Cây DÒNG CHÚA CỨU THẾ vẫn từ thời nguyên thủy, sừng sững vươn cao đứng thẳng, cành lá xum xuê. Một cành lá rụng trăm chồi mọc lên. Mà đây không chỉ rụng một lá, mà là 49 lá, lá đang thì xanh non tươi đẹp, phải là vô số chồi mọc lên. Lời Chúa hứa: "Hạt giống hư nát mới trỗ sinh nhiều hoa trái."

Trong 50 năm (1925-1975), Sổ Vong Bộ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã ghi 49 anh em qua đời: Cha, Thầy, Học viên, đệ tử, tiểu đệ tử.

Hoàn cảnh qua đời: Bệnh (29 người), ngộ nạn (13 người), nạn nhân chiến tranh (1 người), nạn nhân cộng sản (6 người).

Theo luật Dòng, ngay sau lễ qui lăng cho một Anh Em qua đời là một ngày nghỉ trong Dòng mừng người Anh Em bước vào Thiên Ðàng... Vì khi còn sinh thời, Thánh Anphongsô đã báo trước: "Cha thấy dọn sẵn mũ triều thiên cho mỗi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế chết bền đỗ trong Dòng."

NHỮNG NGƯỜI ÐÃ RA ÐI

Requiescant in Pace
Ðịa điểmChaThầyHọc viênÐệ tử
Hà nội 3 4 1 1
Huế 5 4 1 7
Sàigòn 6 3 0 1
Nam-Ðịnh 1 0 0 0
Nha-Trang 1 0 0 0
Ðà lạt 3 0 1 0
Vũng-tầu1 0 0 0
Châu-Ổ 1 1 0 0

Theo Sổ Vong Bộ trong 50 năm (1925-1975).

Back to TopBack to Top


PHẦN KẾT LUẬN

Như trong một số Tỉnh Dòng anh em ở Ðông Âu, Trung và Nam Mỹ, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã hoàn toàn sống dưới chế độ Cộng sản.

Từ năm 1954, đất nước chia đôi, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam mất hai tu viện (Hànội và Nam định).

Từ 30-4-1975, mất đứt luôn 4 tu viện (Nha Trang, Ðàlạt, Thủ Ðức, Vũng tầu). Nhà Huế mất Tiểu Ðệ Tử trường, trường Việt Hương, Thư Viện, phòng giải trí, cư xá Nguyễn Trường Tộ và nhà cưa L'Accueil. Nhà Sàigòn mất Cứu Thế Học Ðường và nhà in. Hiện chỉ còn có nhà Dòng Sàigòn còn tiếp tục sống gần như xưa: sinh hoạt nội bộ (Ðại Hội Tỉnh Dòng, 1980), mở lớp Học viện (Triết học và Thần học), sinh hoạt ngoài giáo xứ và nhà thờ như thường.

Dĩ nhiên cuộc sống hằng ngày nặng lo âu vật chất, nhiều cản trở hoạt động, và vô số khổ tứ lao tâm. Nhưng vẫn sống và sống mạnh.

PHẢI CÔNG NHẬN MỘT ÐIỀU: Chúa Quan Phòng đã dành cho Dòng Chúa Cứu Thế VN quá nhiều hồng ân thiêng liêng và vật chất. Trong suốt thời gian chiến tranh lâu dài, Dòng Chúa Cứu Thế vẫn đầy đủ phương tiện sinh sống: trại gà Scala, nhà máy cưa l'Accueil, nhà kem, vườn rau Ðàlạt, đồn điền Fyan, Túc Trưng, Ðá Hàn... Việc kiến thiết khuếch trương tiếp diễn không ngừng. Sinh hoạt tông đồ không bị gián đoạn. Quả là một phép lạ liên lỉ.

Bây giờ cùng số phận đất nước, thiệt thòi về vật chất có lẽ nhiều. Nhưng có biết đâu: nhẹ bớt vật chất để nặng trĩu tinh thần. Nghèo của đời, để giàu phúc trời. Ðể cho câu khẩu hiệu khắc trong con dấu Dòng Chúa Cứu Thế được thể hiện,

"COPIOSA APUD EUM REDEMPTIO"
NGUỒN ƠN CỨU ÐỘ HẰNG CHỨA CHAN NƠI NGƯỜI.

Back to TopBack to Top

Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The

[Home]
Email: ducme@cuuthe.com