Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The

Ðầu năm 1927, trong kỳ kinh lược, cha Thomas Pintal, Giám Tỉnh Sainte-Anne-de-Beaupré, đã quyết định Tu Viện đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế ở Nam Kỳ sẽ được thành lập tại Ðà Lạt hoặc Sài Gòn. Ngày 01-01-1931, Ðức Giám Mục Dumortier đề nghị cha Edmond Dionne lập tại Sài Gòn một Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế. Ngày 26-03-1931, cha Edmond Dionne chỉ định cha Amédée Fournier và cha Théodose Roy thuộc về "Mission de Saigon", trực tiếp chuẩn bị cho việc thành lập Tu Viện.

Cuối năm 1932, trong thời gian cha Amédée Fournier đi giảng tại Malaysie, Ðức Cha Dumortier trao cho các cha Dòng Chúa Cứu Thế một cộng đoàn tín hữu ở Khánh Hội (ngoại ô Sài Gòn, gồm 300 giáo dân và khoảng 1000 người lương) nhằm mục tiêu thiết lập ở đó một Tu Viện. Các cha Edmond Dionne và Théodose Roy đã mau mắn nhận cộng đoàn tín hữu Khánh Hội như một món quà của Chúa Quan Phòng.

Nhưng ngôi nhà tại Khánh Hội đã xuống cấp trầm trọng. Từ cuối tháng 6-1933, các cha bắt đầu tạm trú tại căn nhà số 163 Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng).

Ngày 7-10-1933, cha Bề Trên Tổng Quyền Patrick Murray đã ký văn kiện thành lập Nhà Sài Gòn.

Từ năm 1934, do hoàn cảnh, cha Edmond Dionne, với tư cách Bề Trên Giám Phụ Tỉnh, phải kiêm luôn chức vụ Bề Trên Nhà Sài Gòn. Và vì thế, trong thực tế, Nhà Sài Gòn đã là trụ sở của Phụ Tỉnh (bấy giờ gọi là Phụ Tỉnh Huế) từ năm 1934, mặc dù đến năm 1939, cha Bề Trên Tổng Quyền mới công bố Nhà Sài Gòn là trụ sở của Phụ Tỉnh.

Suốt 6 năm cư ngụ tại phố Paul Blanchy, các cha luôn miệt mài đi giảng tĩnh tâm và đại phúc; đặc biệt thành công là 2 cuộc đại phúc tại Trà Vinh và Thị Nghè. Ngày 06-01-1937, các cha mua được một thửa đất ở cuối đường Flandin và chuẩn bị xây Tu Viện. Ngày 19-07-1937, trong một văn thư chính thức gửi cha Edmond Dionne, Ðức Cha Dumortier viết : ".Chúng tôi ao ước rằng các cha Dòng Chúa Cứu Thế sẽ không chỉ giảng đại phúc và tĩnh tâm theo như mục đích căn bản của Hội Dòng, mà còn đảm nhận những công trình tông đồ khác nữa." Ngày 29-10-1938, Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn được khởi công xây dựng. Ngày 05-09-1939, các cha, các thầy dọn sang ở trong Tu Viện mới xây. Căn nhà ở phố Paul Blanchy sẽ được bán ngày 26-10-1939. Thế là chấm dứt một giai đoạn lịch sử tế nhị.

Ngày 14-04-1940, Tu Viện được hiến thánh, một trang sử mới bắt đầu. Thượng tuần tháng 5-1942, cha Gérard Boissonnault được chỉ định là Bề Trên Nhà Sài Gòn. Các cha vẫn hăng hái đi giảng tĩnh tâm và tổ chức các kỳ đại phúc, đồng thời tích cực đóng góp cho đời sống tông đồ - mục vụ khắp Nam Kỳ. Từ 1934-1942, các thừa sai Nhà Sài Gòn đã tổ chức 76 cuộc đại phúc và 10 cuộc tái phúc. Chỉ trong năm 1939, Nhà Sài Gòn đã tổ chức liên tiếp 6 cuộc đại phúc : tại Trà Vinh (01-1939), tại Thị Nghè (02-1939), tại Cái Nhum (03-1939), tại Bình Cang (04-1939), tại Cái Mơn (05-1939) và tại Russey-keo (07-1939). Ðời sống tu hành và tông đồ có những bước phát triển mạnh.

Nhưng hoàn cảnh lịch sử ngày càng phức tạp. Từ ngày 10-02-1943 đến ngày 04-09-1945, cứ mỗi thứ ba, các cha người Canada đều phải ra trình diện tại Sở Cảnh Sát. Từ 13-02-1943, Tu Viện phải ngưng tất cả mọi hoạt động tông đồ. Nhưng "cái khó ló cái khôn" : cha Bề Trên Giám Phụ Tỉnh quyết định mở một khoá Nhà Tập II, ngay tại Tu Viện Sài Gòn, bắt đầu từ ngày 17-05-1943, do cha Antoine Lapointe phụ trách.

Suốt những năm 1941-1945, Nhà Sài Gòn đã cùng với toàn thể dân tộc Việt Nam trải qua một cuộc chiến kinh hoàng. Khói lửa chiến tranh lan đến bên trong khuôn viên Tu Viện.

Sau Ðệ nhị thế chiến, một Tiểu Ðệ Tử Viện được thành lập tại Sài Gòn. Các cha, các thầy thuộc Tu Viện Sài Gòn đã đóng góp rất nhiều vào việc xây dựng một nhà nghỉ tại Ðà Lạt, xây dựng Học Viện Ðà Lạt (1949-1952) và Ðệ Tử Viện tại Vũng Tàu (1955). Ðồng thời, các ngài luôn hăng say họat động tông đồ.. Sau chiến tranh, từ 1946-1952, có 101 cuộc đại phúc và 36 cuộc tái phúc đã được các linh mục thuộc Nhà Sài Gòn thực hiện.

Tháng 08-1952, các cha khởi công xây dựng Thánh Ðường Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn. Ðể có đủ kinh phí xây nhà thờ, Tu Viện tổ chức chiếu phim. Khoảng sân rộng phía sau nhà thờ được tận dụng, sức chứa từ 800 đến 1000 người. Khán giả khá đông. Thu nhập đáng kể. Thú tiêu khiển tao nhã. Quả là nhất cử lưỡng tiện! Ngày 20-12-1953, Thánh Ðường được hiến thánh, dâng kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ðây sẽ là một trung tâm hành hương sầm uất.

Song song với các hoạt động trong lãnh vực xây Tu Viện và nhà thờ, các cha luôn hăng say hoạt động tông đồ, nhất là đi giảng đại phúc và tĩnh tâm. Không chỉ đi giảng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh, các cha thuộc Nhà Sài Gòn còn đi giảng ở Bắc Kỳ, ở Huế, ở Kontum, ở Ðà Lạt, ở Tây Ninh, ở Cam-pu-chia. Các cha cũng bắt đầu công cuộc truyền giáo cho anh chị em dân tộc thiểu số, trước hết là những công nhân xây dựng nhà nghỉ và xây dựng Học Viện tại Ðà Lạt.

Năm 1954, các cha Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn tích cực lo cho những người di tản từ miền Bắc vào miền Nam. Làng Tân Hà (Bảo Lộc) là một bằng chứng điển hình cho những thành quả của loại hoạt động này. Trước đó, từ năm 1952, các cha đã thành lập làng Hà Ðông (Ðà Lạt). Ngoài ra, các cha cũng đóng góp tích cực cho công cuộc ổn định đời sống của đồng bào di cư tại vùng Hố Nai.

Cũng do cuộc di cư, từ 26-09-1954, trụ sở Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được đặt trong khuôn viên Tu Viện Sài Gòn.

Nhà Sài Gòn đã trở thành trung tâm của tất cả Phụ Tỉnh. Nhà Hà Nội đã gần như trống trải. Nhà Huế, với cuộc di tản của Ðệ Tử Viện, đã nên vắng vẻ. Xung quanh Sài Gòn đã tập trung tất cả các công trình đào tạo : Tập Viện và Học Viện tại Ðà Lạt, Ðệ Tử Viện tại Vũng Tàu. Các nhà và các trung tâm thừa sai khác sẽ lần lượt được thiết lập tại miền Trung và miền Nam. Nhà Sài Gòn sẽ đóng góp tích cực vào các công trình ấy.

Tháng 07-1956, cha Gia-cô-bê Ðào Hữu Thọ được đặt làm Bề Trên Nhà Sài Gòn, vị Bề Trên tiên khởi người Việt Nam tại Tu Viện này, đánh dấu một bước chuyển tiếp quan trọng, trực tiếp chuẩn bị cho việc tiến tới thiết lập Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam độc lập.

Nhưng có thể nói đây cũng là lúc Nhà Sài Gòn đã bắt đầu phải đối diện với rất nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp, do cùng đồng hành với vận mệnh dân tộc. Vào những năm cuối thập niên 1950, đáng chú ý là vai trò của cha Irénée Marquis (Bề Trên Nhà Sài Gòn nhiệm kỳ 1953-1956) bên cạnh Ðức Khâm Sứ Toà Thánh trong giai đoạn rất đặc biệt (trực tiếp chuẩn bị thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam), rồi do đó và do những lý do khác nữa, Tu Viện Sài Gòn đã đón tiếp nhiều nhân vật quan trọng trong Giáo Hội, trong xã hội dân sự và quân đội. Bắt đầu từ đó và với ý thức dấn thân vì Tin Mừng và vì dân tộc, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của Tổ Quốc, Nhà Sài Gòn bước vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt tế nhị : hoàn cảnh lịch sử khách quan của Tổ Quốc đã đặt anh em linh mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (gồm cả những anh em người Việt Nam lẫn những anh em người Canada) trước những định hướng và chọn lựa dấn thân không đơn giản. Và tình hình tế nhị này sẽ ngày càng tế nhị cho đến biến cố năm 1975. Lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo Hội Việt Nam có lẽ không thể không dành một vài hàng nói về Tu Viện này. Tất nhiên, không thể phủ nhận những tác động tích cực cũng như tiêu cực của sự khác biệt trong ý hướng và chọn lựa dấn thân giữa các thành viên trên đời sống của cộng đoàn Tu Viện. Dẫu thế, tình huynh đệ cộng đoàn vẫn là một nét son không thể phủ nhận trong dung mạo Nhà Sài Gòn.

Về phương diện Tỉnh Dòng, biến cố quan trọng nhất trong thập niên 1960 là việc thành lập Tỉnh Dòng ngày 27-05-1964. Nhà Sài Gòn trở thành trụ sở của Tỉnh Dòng.

Trước đó, trong nhiệm kỳ cha Phan-xi-cô Xa-vi-ê Trần Tử Nhãn làm Bề Trên Nhà Sài Gòn (1959-1961), toà nhà Tu Viện đã được xây thêm một tầng lầu nữa. Nhờ đó, các sinh hoạt của Tỉnh Dòng và của Nhà Sài Gòn có phần thuận lợi hơn.

Một trong những sự kiện quan trọng đối với Nhà Sài Gòn về phương diện tông đồ là việc thành lập giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp (1963). Ngoài các cuộc giảng tĩnh tâm và giảng đại phúc (ít hơn so với trước kia), các hoạt động xây dựng và phát triển giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp trở thành một trung tâm mục vụ lớn và sầm uất, đã là những hoạt động tông đồ - mục vụ rất đáng chú ý của Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Ngoài ra, còn phải kể đến các hoạt động tông đồ của các cha tuyên úy quân đội và tuyên úy nhà tù, cũng như các hoạt động khác của các thành viên Cộng Ðoàn Sài Gòn đang vì lý do nào đó, phải ở bên ngoài Tu Viện. Các hoạt động xã hội và giáo dục cũng phát triển mạnh. Ðáng kể nhất là việc thành lập và điều hành các trường trung học Tinh Thần và Cứu Thế. Trong số các hoạt động xã hội, mọi người đều đánh giá rất cao các hoạt động của cha Lucien Olivier, nhất là trong việc tổ chức Cư Xá Notre-Dame.

Từ năm 1971, Nhà Sài Gòn phụ trách công tác truyền giáo tại Cần Giờ.

Như thế, nếu phải phác họa đôi nét về dung mạo phong phú và sinh động của Nhà Sài Gòn, có thể kể ra những "đường nét" sau đây : Trụ sở Tỉnh Dòng; Tu Viện thừa sai; Trung tâm hành hương kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp; Giáo xứ; Trung tâm mục vụ hôn nhân - gia đình; Nhà xuất bản; Nhà in; Toà báo; Trung tâm giáo lý; Trường trung học; Các công trình Công Giáo Tiến hành, các hoạt động xã hội-văn hóa; Truyền giáo tại Cần Giờ.

Ngày 30-04-1975, chế độ Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ. Ðất Nước thống nhất. Lịch sử sang trang. Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn bước vào một giai đoạn lịch sử mới.

Trước hết là việc các thừa sai người Canada phải rời khỏi Việt Nam. Hai vị thừa sai cuối cùng phải rời Việt Nam (dù các ngài đã tha thiết xin được ở lại) là cha Eugène Larouche và cha Lucien Olivier (09-07-1976).

Sau đó là việc quốc hữu hóa các trường học, đóng cửa Nhà xuất bản, Nhà in và Toà báo. Các hoạt động văn hóa và xã hội bị hạn chế tới mức chỉ còn duy trì một số hoạt động tối thiểu. Chấm dứt hoạt động tuyên úy quân đội và nhà tù. Một số linh mục bị đưa đi học tập cải tạo. Mọi hoạt động tông đồ - mục vụ đều khó thực hiện hơn trước nhiều.

Tuy nhiên, kể từ năm 1975, suốt gần hai thập niên sống trong hoàn cảnh rất đặc biệt, và nhất là từ đầu thập niên 1990, Nhà Sài Gòn vẫn luôn là một trung tâm mục vụ sinh động vào bậc nhất có lẽ không chỉ của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, mà còn là của toàn thể Giáo Hội Việt Nam : Trụ sở Tỉnh Dòng; Tu Viện thừa sai; Trung tâm hành hương kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp; Giáo xứ; Trung tâm mục vụ hôn nhân - gia đình; Trung tâm giáo lý (giáo lý dự tòng, giáo lý thiếu nhi, giáo lý giới trẻ, giáo lý Kinh Thánh.); Các hoạt động xã hội.

Từ năm 1990, hoàn cảnh khách quan thuận lợi hơn trước. Các hoạt động tông đồ - mục vụ của Nhà Sài Gòn phong phú hơn, các cơ sở vật chất cũng được trang bị tốt hơn. Ngoài ra, Nhà Sài Gòn cũng đã trở thành trung tâm đào tạo lớn của Tỉnh Dòng : Học Viện, Tập Viện, Dự Tập.

Danh sách các linh mục Bề Trên Nhà Sài Gòn:

1932 - 1933 : linh mục Amédée Fournier
1934 - 1942 : Linh mục Edmond Dionne
1942 - 1946 : Linh mục Gérard Boissonnault
1946 - 1953 : Linh mục Rémi Bellemare
1953 - 1956 : Linh mục Irénée Marquis
1956 - 1959 : Linh mục Gia-cô-bê Ðào Hữu Thọ
1959 - 1961 : Linh mục Phan-xi-cô Xa-vi-ê Trần Tử Nhãn
1961 - 1964 : Linh mục Henri Bạch Văn Lộc
1964 - 1967 : Linh mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Cái Vĩnh Phúc
1967 - 1968 : Linh mục Gio-an Nguyễn Văn Thính
1968 - 1975 : Linh mục Lê-ô Lê Trung Nghĩa
1975 - 1979 : Linh mục Giu-se Phạm Thanh Quang
1979 - 1981 : Linh mục Lê-ô Lê Trung Nghĩa
1981 - 1993 : Linh mục Giu-se Cao Ðình Trị
1993 - 1999 : Linh mục Mát-thêu Vũ Khởi Phụng
1999 -          : Linh mục Tô-ma Phạm Huy Lãm

[Home]

Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The


Dong Chua Cuu The.
All rights reserved.
Email: ducme@cuuthe.com