Trong số những hoạt động tông đồ của Tỉnh Dòng, dạy giáo lý phải được kể như một hoạt động chủ chốt, vì đây là một trong những hoạt động chính yếu gắn liền với sứ mạng của vị thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế.
Theo dòng thời gian, tên tuổi nhiều anh em Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã gắn liền với sứ mạng này. Thật khó có thể kể hết được con số các anh chị em dự tòng đã được các ngài dạy giáo lý và ban bí tích Thánh Tẩy, tại tất cả các Nhà và Cộng Ðoàn. Chỉ riêng Nhà Sài Gòn, trung bình mỗi năm con số tân tòng đã lên tới khoảng 500 người. Tại hầu hết tất cả các Nhà và Cộng Ðoàn, các loại hình giáo lý như giáo lý thiếu nhi, giáo lý bao đồng, giáo lý hôn nhân và đặc biệt là giáo lý dự tòng, đều được tổ chức thường xuyên theo chu kỳ hoặc theo các khoá ngắn ngày. Ðiểm đặc biệt chính là sự nhiệt thành tận tụy của hết mọi anh em trong khi thực hiện công tác tông đồ này. Các linh mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, nói chung, luôn sẵn sàng nói về Chúa và tìm ra những sáng kiến mới để loan báo về Chúa cho mọi người trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thuận lợi cũng như bất lợi.
Giống như bất kỳ loại hình mục vụ nào, mục vụ giáo lý cũng trải qua những bước thăng trầm, gắn với những hoàn cảnh lịch sử. Những năm đầu tiên, khi các vị thừa sai tiên khởi của Dòng Chúa Cứu Thế tới Việt Nam, việc dạy giáo lý chưa thật sự nổi bật, một phần do Nhà Dòng đang trong giai đoạn hình thành. Mục vụ giáo lý đã được bắt đầu dưới hình thức các giờ giáo lý lồng trong các kỳ đại phúc, và dưới dạng các cuộc gặp gỡ cá nhân giữa anh em trong Nhà Dòng và những người mộ mến đạo Chúa, mà một trong những "điểm hẹn" khá lý tưởng là Thư Viện l’Accueil (Huế).
Từ những năm cuối cùng của thập niên 1930, việc dạy giáo lý có quy củ và tổ chức đã xuất hiện và trở thành một trong những công việc mục vụ được ưu tiên. Các loại hình giáo lý cũng bắt đầu được biết đến, nhưng nổi bật phải kể tới giáo lý cho người dự tòng. Vào thập niên 1940, Nhà Hà Nội đã được biết đến như một trung tâm dự tòng của cả Nước. Vào lúc cao điểm (1949), Cộng Ðoàn phụ trách dạy giáo lý cho 25 làng khác nhau, với khoảng 4000 học viên.
Từ năm 1954, sau các đợt di cư, Nhà Hà Nội trở nên trống vắng. Các lớp giáo lý thưa dần và hầu như mất hẳn từ năm 1959. Nhà Sài Gòn trở thành một trung tâm giáo lý của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Các loại hình giáo lý trước kia không chỉ được tiếp tục mà còn tăng số. Năm 1965, Trung Tâm Mục Vụ Hôn Nhân và Gia Ðình, trong đó việc dạy giáo lý chiếm vị trí hàng đầu, ra đời và tồn tại cho tới ngày nay. Việc mở thêm các trung tâm truyền giáo Fyan (1956) và Châu Ổ (1963) càng làm cho việc dạy giáo lý trở nên nhộn nhịp. Tại hai trung tâm này, mỗi năm có rất nhiều người được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy.
Sau năm 1975, mục vụ giáo lý gặp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, chính trong lúc khó khăn này, anh em trong Dòng đã năng động đề ra những sáng kiến táo bạo, hầu giữ cho hoạt động này được tiếp tục. Sáng kiến đặc biệt nhất phải kể là việc tổ chức các buổi hoà ca và dao ca tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế, trong đó, các cha đã khéo léo trình bày giáo lý vào đầu, cuối hay lúc nghỉ giữa các tiết mục. Tại các nơi không được phép tổ chức các lớp giáo lý, việc dạy giáo lý được thực hiện ngay trước hoặc sau các lễ nghi phụng vụ. Tuy nhiên, trong khoảng 15 năm cuối của thế kỷ XX, do hoàn cảnh lịch sử có nhiều thay đổi, tại tất cả các cộng đoàn, các lớp giáo lý dần được khôi phục và đi vào ổn định. Bên cạnh đó, tại Nhà Sài Gòn, các loại hình giáo lý mới cũng được khai triển, như giáo lý Kinh Thánh theo năm phụng vụ, giáo lý cho người trẻ vào đời, giáo lý cho các em khiếm thị... Tại các trung tâm truyền giáo Fyan, Tây Nguyên, Châu Ổ, mục vụ giáo lý trở thành một trong những hoạt động tông đồ chính yếu với nhiều sáng kiến mới.
Trong số những công việc mục vụ của anh em tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam 75 năm qua, dạy giáo lý là một hoạt động mục vụ năng động, gắn liền với cuộc đời của mỗi anh em trong Dòng và đã có nhiều thành công đáng kể.