Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The

 

Dòng Chúa Cứu Thế là một tu hội giáo sĩ thừa sai, trực thuộc Công Pháp Giáo Hoàng và hưởng quyền đặc miễn, có mục đích đi theo Chúa Cứu Thế rao giảng Lời Chúa cho người nghèo. Vì thế, giai đoạn đào tạo các linh mục tương lai tại Học Viện là giai đoạn quan trọng đối với mỗi linh mục Dòng Chúa Cứu Thế và đối với toàn thể cộng đoàn.

Sau đúng mười năm kể từ khi các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế thiết lập cộng đoàn tại Việt Nam, tức là ngay khi các cơ sở vật chất, nhân sự và tông đồ - mục vụ đã được xây dựng và bắt đầu đi vào giai đoạn ổn định, thì Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam - cộng đoàn đào tạo quan trọng nhất - đã được thành lập. Ðó là năm 1935, thời cha Edmond Dionne làm Bề Trên Giám Phụ Tỉnh. Cha Pamphile Couture được chỉ định làm Giám Ðốc tiên khởi của Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Quyết định thành lập Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam năm 1935 là một quyết định có tính lịch sử, và là một trong những quyết định có tác động sâu sắc trên dung mạo cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (gồm cả những vị người Việt lẫn những vị người Canada) từ nay sẽ được đào tạo ngay tại Việt Nam, trong những hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa của Ðất Nước này với tất cả những biến động tích cực cũng như tiêu cực của nó. Các giáo sư tài đức của Dòng Chúa Cứu Thế Canada được cử sang Việt Nam để đảm nhận công tác đào tạo quan trọng nhất này. Ðiều đáng quan tâm không phải là vấn đề giảm bớt kinh phí đào tạo, mà là chính những yếu tố đức tin, linh đạo và văn hóa trực tiếp tác động trên công cuộc đào tạo và tự đào tạo của các thế hệ linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Có thể nói: ngay từ trong quyết định thành lập, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã mang trong mình một chủ đích quan trọng: chủ đích mục vụ. Suốt gần 70 năm qua, đó luôn là một trong những nét nổi bật trên dung mạo của Học Viện này.

Từ năm 1935 đến năm 1950, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được đặt tại Tu Viện Thánh An-phong, Hà Nội. Ngay từ tháng 9 năm 1935, Học Viện Thái Hà Ấp đã có một Ban Giáo Sư và có đủ các lớp của một Học Viện thực thụ (gồm 2 lớp triết học và 4 lớp thần học). Tất nhiên vào niên học đầu tiên, các thầy sinh viên người Việt Nam mới chỉ là thành phần của lớp Triết I. Ðó là các thầy Henri Lộc, A-lê-xi Mân, Gio-an Ma-ri-a Dong, Gio-an Thính và Gia-cô-bê Cân. Số học viên còn lại là các cha, các thầy người Canada. Kể từ đó, con số sinh viên Học Viện nói chung, sinh viên người Việt Nam nói riêng, sẽ mỗi năm mỗi tăng.

Từ năm 1936, mỗi năm, Học Viện Thái Hà Ấp đều có sinh viên lãnh sứ vụ linh mục. Năm 1936, cha Camille Dubé là người đầu tiên của Dòng Chúa Cứu Thế lãnh sứ vụ linh mục trên đất Việt Nam.

Châm ngôn của Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế là Soli Deo et Studiis (chỉ mình Thiên Chúa và việc học). Các việc đạo đức hằng ngày, việc suy niệm lời Chúa, các giờ huấn đức, việc đọc sách thiêng liêng, các kỳ cấm phòng tháng. đã giúp các sinh viên sống kết hiệp với Thiên Chúa ngay giữa những biến động lớn lao của thời cuộc những năm 1940. Về việc học, Tỉnh Mẹ và các vị Bề Trên của Phụ Tỉnh đã không ngại đầu tư sách vở và các cơ sở vật chất, giúp các sinh viên trau giồi những kiến thức vững chắc và phong phú về triết học, thần học, lịch sử và văn chương. Các giáo sư Học Viện là các linh mục lỗi lạc, rất tận tâm trong công việc đào tạo.

Một điểm son đặc biệt trong lịch sử Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã được hình thành ngay từ những ngày đầu tại Học Viện Thái Hà Ấp và vẫn còn được duy trì mãi đến nay như một truyền thống rất tốt đẹp, đó là tình huynh đệ chân thành và sâu đậm giữa anh em sinh viên. Trong những năm đầu mới được thành lập, Học Viện Thái Hà Ấp gồm phần đông là các sinh viên người Canada và toàn bộ Ban Giáo Sư cũng là các cha người Canada. Mặc dù thế, không hề mảy may có chút gì bóng dáng sự phân biệt chủng tộc, ngay giữa anh em sinh viên với nhau. Tinh thần ấy được các Bề Trên, các giáo sư và toàn thể các cha Canada tích cực ủng hộ và giúp xây dựng.

Ðể tạo điều kiện cho Học Viện phát triển, các cha xây một toà nhà khang trang dùng làm Học Viện. Năm 1939, toà nhà này được khánh thành. Phần lớn thời gian của niên học được diễn ra tại đây.

Mùa hè 1936, Nhà Dòng thuê một biệt thự trên bãi biển gọi là Bãi Cháy, để anh em sinh viên nghỉ hè tại đó hơn 2 tháng. Từ năm 1937, một biệt thự khang trang được xây dựng trên núi Mẫu Sơn, cách Lạng Sơn hơn 10 km, dùng làm nơi nghỉ hè và bắt đầu niên học mới cho các sinh viên Học Viện.

Ngày 06-06-1940, các thầy Gia-cô-bê Nguyễn Trọng Cân, Alexis Trépanier, Henri Bạch Văn Lộc, Gio-an Ma-ri-a Nguyễn Kim Dong và Gio-an Nguyễn Văn Thính lãnh sứ vụ linh mục. Ðó là sáu bông hoa đầu tiên được ươm trồng hoàn toàn trong Học Viện Thái Hà Ấp, từ năm Triết I.

Cuối năm 1950, thời cha Alphonse Tremblay là Bề Trên Giám Phụ Tỉnh, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam di chuyển vào Ðà Lạt. Tu Viện Ðà Lạt được khởi công xây dựng từ năm 1949, nhằm mục tiêu làm cơ sở đào tạo các linh mục tương lai của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Năm 1952, toà nhà Học Viện Ðà Lạt được khánh thành. Từ cuối năm 1950, các sinh viên Học Viện đã trực tiếp góp phần xây dựng toà nhà đồ sộ và khang trang này.

Tiếp tục đường lối đào tạo được thực hiện tại Học Viện Thái Hà Ấp, Học Viện Ðà Lạt đã trải qua hơn một thập niên bình an, ổn định và gặt hái được nhiều thành công tốt đẹp. Ðiểm đặc biệt nổi bật trong lịch sử Học Viện Ðà Lạt trước Công Ðồng Va-ti-ca-nô II là việc trao các trách nhiệm quan trọng trong việc đào tạo tại Học Viện cho các linh mục người Việt Nam đảm trách. Cha Tê-pha-nô Nguyễn Tín là linh mục người Việt Nam đầu tiên lãnh trách nhiệm Giám Ðốc Học Viện (năm 1956). Ngài cũng là giáo sư thần học tại Học Viện; cha Giu-se Nguyễn Thế Thuấn : Kinh Thánh, cha I-nha-xi-ô Bùi Quang Diệm : triết học. Ðó cũng là ba vị giáo sư người Việt Nam đầu tiên tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Bên cạnh việc học Kinh Thánh, triết học và thần học, các thầy Học Viện cũng được phái đến một số xứ đạo ở Ðà Lạt để phục vụ, hoặc thỉnh thoảng tham dự, góp tiếng hát trong các buổi lễ ở nhà thờ Chánh Toà Ðà Lạt, và nhất là phục vụ tại giáo xứ Tùng Lâm và giáo sở Bạch Ðằng do Nhà Dòng phụ trách.

Từ năm 1963 đến năm 1965, biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Giáo Hội thế kỷ 20 đã diễn ra: Công Ðồng Va-ti-ca-nô II. Ðồng thời với biến cố này và sau biến cố này hơn một thập niên, đời sống Giáo Hội có những biến chuyển nhanh chóng, sâu sắc và mạnh mẽ. Là một thành phần (dù rất nhỏ bé) của Hội Thánh, lại thêm nhiều lý do riêng của lịch sử phát triển Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Ðà Lạt nửa cuối thập niên 1960 cũng có những biến cố đặc biệt. Bén nhạy hơn với lời mời gọi và những đòi hỏi của lời Chúa, được trang bị những kiến thức thần học mới mẻ và những kiến thức triết học, văn chương hiện đại, háo hức tìm kiếm những cách thức mới để thực hiện đời sống dấn thân - phục vụ theo lý tưởng An-phong, được luồng gió canh tân của Công Ðồng tiếp thêm sức mạnh., vào những năm cuối thập niên 1960, tại Học Viện Ðà Lạt, ý thức nhập thế và "vào đời" đã làm cho bầu nhiệt huyết tuổi trẻ như trào lên mạnh mẽ, tạo nên những hoạt động, những phong trào trẻ trung, mới mẻ. Những hoạt động đó được ủng hộ cũng nhiều mà bị ngộ nhận cũng chẳng ít. Thành công nhất và cũng phải chịu nhiều thành kiến nhất, có lẽ là Nhóm Alleluia!

Ðầu năm 1971, thời cha Henri Bạch Văn Lộc làm Bề Trên Giám Tỉnh, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được dời về Thủ Ðức, gần trung tâm văn hóa, dễ tìm các giáo sư, dễ tiếp xúc, giao lưu. Cha Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú được chỉ định làm Giám Ðốc Học Viện Thủ Ðức. Từ ngày 08-08-1972, cha Giu-se Trần Ngọc Thao đảm nhận trách nhiệm quan trọng này.

Tại Thủ Ðức, Học Viện ở cạnh Ðệ Tử Viện, trong một toà nhà được xây làm Tu Viện bình thường hơn là làm học viện. Thời gian đầu, các thầy sinh viên theo học tại Ðại Học Minh Ðức. Nhưng chẳng bao lâu, vì không phù hợp với lối dạy thần học tại Viện Ðại Học này, anh em sinh viên xin được học thần học tại nhà. Cha Giu-se Nguyễn Thế Thuấn và cha Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú đã nỗ lực rất nhiều, đồng thời, nhờ có cha Giu-se Trần Ngọc Thao và cha An-tôn Trần Ðình Phúc mới đi du học về, nên chương trình thần học tại Học Viện Thủ Ðức được bảo đảm tốt đẹp. Tiếp tục truyền thống đã có từ Ðà Lạt cuối thập niên 1960, vào mỗi mùa hè, các sinh viên Học Viện đều được gửi đi thực tế mục vụ tại các cộng đoàn và trung tâm truyền giáo của Tỉnh Dòng. Nhờ đó, công cuộc đào tạo và tự đào tạo được cân đối và thực tiễn.

Ðời sống vật chất tại Học Viện Thủ Ðức gặp nhiều khó khăn. Ðàng khác, nhà cửa vừa xây xong, công việc bề bộn. Anh em Học Viện đã trực tiếp tham gia lao động chân tay, ổn định nhà cửa, đào hồ nuôi cá, xây dựng trại heo, trại gà, canh tác vườn tược. Vừa học vừa lao động, gia đình Học Viện đã có thể tự lập trong các chi phí nhỏ : đi lại, điện nước, xăng nhớt, sách vở. Không ngờ đó lại là cách chuẩn bị cho những ngày khốn khó và cuộc đời thừa sai giữa dân nghèo sau này.

Tháng 4 năm 1975, những biến cố lịch sử dồn dập xảy đến. Nhờ tinh thần và cơ sở vật chất đã sẵn, anh em sinh viên Học Viện đã tích cực góp phần giúp đỡ những người di tản, phụ giúp các cha, các thầy Nhà Sài Gòn. Sau đó là giai đoạn vừa lo học hành, vừa tổ chức sống tự lập về kinh tế.

Năm 1978. Từ ngày lễ Thánh Phao-lô trở lại (25-01) cho đến lễ Thánh Giu-se (19-03), cùng với toàn thể Tu Viện Thủ Ðức và các Dòng bạn ở chung quanh, gia đình Học Viện trải qua những tháng ngày bị quản chế đặc biệt. Rồi Học Viện cũng như Tu Viện và Ðệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Thủ Ðức phải đóng cửa. Các linh mục, tu sĩ và đệ tử phải rời khỏi cơ sở đó.

Thời kỳ kế tiếp là thời kỳ dài hơn một thập niên Học Viện "phiêu cư". Từ nay, trường học chủ yếu là trường đời. Nhưng Chúa Thánh Thần vẫn là giáo sư chính thức.

Chưa hết bàng hoàng vì những đau thương do biến cố 25-01-1978 gây ra, Ban Giám Ðốc, Ban Giáo Sư và mọi anh em sinh viên liền phải đối mặt với muôn vàn truân chuyên của cuộc sống phức tạp, khó khăn và nghiệt ngã. Hầu hết anh em sinh viên phải sống ngoài Tu Viện, thường trú theo gia đình và làm đủ nghề mưu sinh: làm ruộng, công nhân chăn nuôi, công nhân nhà máy chế biến thức ăn gia súc, công nhân tổ hợp mây tre lá, thợ hồ, giáo viên, đạp xích lô, hớt tóc, đoàn viên nông trường. Một vài thầy nhiều lúc thất nghiệp, bôn ba tìm việc làm khắp nơi. Tất cả mọi phương tiện nâng đỡ đời sống tu trì, công việc học hành và đời sống cộng đoàn đều không còn nữa.

Nhưng Thiên Chúa đã dùng hoàn cảnh đặc biệt như thế để đào luyện các thừa sai của Người. Giữa hoàn cảnh khó khăn, anh em lại được thúc đẩy gia tăng đời sống tâm giao với Chúa Ki-tô với ý thức rằng chính Người mới là Ðá Tảng độc nhất của đời tu. Ðời tu dấn thân với người nghèo được sống cách cụ thể hơn, người tu chia sẻ mọi cảm nghiệm khổ đau của người trần. Những kiến thức Thần Học và Kinh Thánh được Nhà Dòng tìm hết cách cung cấp sẽ được chính môi trường cuộc sống giúp đào sâu. Hoàn cảnh không cho phép có những sinh hoạt cộng đoàn thường kỳ và rầm rộ, anh em sinh viên tìm cách gặp gỡ nhau trong các nhóm nhỏ, thân ái, gần gũi, sẻ chia, tương trợ và cảm thông sâu xa với nhau. Sự quan tâm và khích lệ của Nhà Dòng trong việc gây dựng và củng cố những cộng đoàn nhỏ đó, và trong việc khuyến khích sự liên đới hay hội nhập vào các cộng đoàn địa phương. đã thực sự tạo nên những luồng sinh khí cho đời sống cộng đoàn của anh em Học Viện.

Ðó là đôi nét về khuôn mặt của Học Viện "phiêu cư". Thực ra, trong một vài năm đầu của cuộc phiêu cư, đã có không ít những hoang mang, hụt hẫng, chán chường. Nhưng có thể nói: kể từ đầu thập niên 1980 (Học Viện được gọi bằng một tên mới : "Cấp III"), Tỉnh Dòng, Ban Giáo Sư và bản thân mỗi anh em sinh viên đã nỗ lực rất nhiều để vượt thắng hoàn cảnh, tận dụng tất cả những cơ hội thuận lợi ít ỏi, tìm hết cách đào tạo và tự đào tạo các tu sĩ ứng viên linh mục nên hiện thân của Ðức Ki-tô - Linh Mục Thượng Phẩm đời đời, mặc dầu việc lãnh nhận sứ vụ linh mục tưởng như không thể có được trong tương lai gần.

Rồi đến lúc hoàn cảnh khách quan có phần bớt khó khăn hơn. Cuối năm 1989, cùng với Ban Quản Trị Tỉnh, cha Bề Trên Giám Tỉnh Giu-se Trần Ngọc Thao đã đi đến một quyết định có tính lịch sử : chấm dứt tình trạng Học Viện "phiêu cư", tái tổ chức Học Viện, thực hiện một chương trình đào tạo chính quy tập trung (với 2 năm triết học và 4 năm thần học, xen kẽ vào đó là những chương trình thực tập mục vụ). Và sáng ngày 01-01-1990, lễ kính Ðức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã được tái tổ chức với 13 sinh viên. Một phần của Tu Viện Sài Gòn được dành làm Học Viện, thường được gọi vui là "khách sạn 5 sao". Một không khí phấn khởi bao trùm. Nhưng vẫn còn đó không ít những lo lắng, những khó khăn. Thực ra, để thực hiện quyết định tái tổ chức Học Viện, điều kiện chủ quan và khách quan của Tỉnh Dòng và của Ðất Nước những năm cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990 đã đòi hỏi Tỉnh Dòng, Ban Giám Ðốc, Ban Giáo Sư và mỗi sinh viên phải thật dũng cảm, hết sức khôn ngoan, đầy lòng yêu mến và rất mực tin tưởng vào Thiên Chúa.

Nhà Sài Gòn vốn không được xây dựng để làm Học Viện, lại đang là trụ sở Tỉnh Dòng, Tu Viện thừa sai và Tập Viện. Vì thế, tổ chức Học Viện tại đây là một công việc không đơn giản. Ðàng khác, tất cả các sinh viên đều không được tạm trú trong Tu Viện, phải nghỉ đêm tại nhà các giáo dân hoặc bà con xa gần. Tuy thế, không khí học tập và tu luyện vẫn thật phấn khởi, vui tươi và lạc quan.

Ðể tạo điều kiện tốt hơn cho việc đào tạo các linh mục tương lai, một trong những ưu tư hàng đầu của cha Giu-se Cao Ðình Trị trong chức vụ Giám Tỉnh là xây dựng một toà nhà dùng làm Học Viện. Và tháng 08-1995, công cuộc này đã hoàn thành, tọa lạc phía sau toà nhà chính của Tu Viện Sài Gòn. Nhờ đó, việc đào tạo và tự đào tạo tại Học Viện được thuận lợi hơn rất nhiều.

Nếu nửa đầu thập niên 1990, việc anh em sinh viên tạm trú trong Tu Viện còn gặp nhiều khó khăn, thì vào nửa cuối thập niên 1990, càng ngày càng có nhiều anh em được chính quyền cho phép tạm trú tại Nhà Sài Gòn để hoàn thành chương trình tu học.

Tổng số sinh viên Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam vào năm 1999 là 59 sinh viên, đông nhất kể từ khi Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được thành lập (1935) với đầy đủ 2 lớp triết học và 4 lớp thần học. Kể từ năm 1995, hai lớp triết học theo học chương trình triết học của Học Viện Ða-minh, bốn lớp thần học theo học chương trình thần học tại Lớp Bồi Dưỡng Thần Học Phao-lô Nguyễn Văn Bình (được tổ chức như một thứ Học Viện Thần Học Liên Dòng). Ðể bồi dưỡng tinh thần và trí ý Dòng Chúa Cứu Thế, Ban Giám Ðốc thường tổ chức các chương trình học riêng của Học Viện và các chương trình thực tập mục vụ thích hợp. Nhờ đó, về phương diện học tập và tông đồ, anh em sinh viên được đào tạo khá đầy đủ và cân đối.

Về phương diện đời sống thiêng liêng, nhờ các kỳ cấm phòng hàng năm và hàng tháng, nhờ các giờ kinh nguyện và thánh lễ chung, nhờ việc chuyên chăm suy niệm lời Chúa, nhờ những công việc đạo đức hàng ngày và nhờ các giờ huấn đức hàng tuần của Ban Giám Ðốc Học Viện, cộng thêm nỗ lực và lòng yêu mến của mỗi người, anh em sinh viên đã có được điều kiện thuận lợi để sống kết hiệp với Chúa Ki-tô và nung nấu lửa nhiệt thành tông đồ.

Câu châm ngôn truyền thống của Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế lại thường được nhắc đi nhắc lại: Soli Deo et Studiis.

Về phương diện đời sống cộng đoàn, nhờ ở trong khuôn viên Tu Viện Sài Gòn (trụ sở Tỉnh Dòng) và bên cạnh Nhà Hưu Dưỡng Tỉnh Dòng, anh em sinh viên có điều kiện đào luyện và tăng trưởng tinh thần huynh đệ cộng đoàn cách đặc biệt, không chỉ trong nội bộ Học Viện, mà còn trong đời sống chung của toàn thể Tỉnh Dòng. Có lẽ chưa bao giờ Học Viện có điều kiện tốt như hiện nay để anh em sinh viên được đào tạo và tự đào tạo về phương diện này. Có thể nói : tinh thần và tình huynh đệ cộng đoàn vẫn luôn là một nét son nổi bật trong đời sống của Gia Ðình Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Ðời sống Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam trong thập niên 1990 vừa qua khá ổn định, ít là về mặt con số, dẫu phải đối diện với rất nhiều khó khăn. Trọn 10 năm kể từ ngày tái tổ chức (01-01-1990) tính cho đến ngày 01-01-2000, tổng số sinh viên nhập Học Viện là 85 anh em, trong số đó chỉ có một anh em chuyển hướng (tỉ lệ 1,17 %). 98,83% số sinh viên nhập Học Viện trong thập niên 1990 vẫn bền đỗ trong Dòng.

Với kinh nghiệm của 65 năm thăng trầm (từ Hà Nội đến Ðà Lạt, rồi Thủ Ðức, rồi "phiêu cư" và hiện nay là ở Thành Phố Hồ Chí Minh), nhờ ân sủng của Chúa Cứu Thế, sự trợ giúp của Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, của Thánh An-phong và Chân Phúc Gaspar, Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin bước vào thiên niên kỷ mới trong sứ vụ đào tạo các linh mục thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, theo chân Ðức Ki-tô Cứu Thế loan báo Tin Mừng cứu độ cho những người nghèo khổ.

Danh sách các linh mục Giám Ðốc Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

1935 - 1936 : Linh mục Pamphile Couture
1936 - 1939 : Linh mục Louis Roy
                       Linh mục Alphonse Tremblay
1939 - 1942 : Linh mục Maurice Létourneau
                       Linh mục Louis Roy
1942 - 1946 : Linh mục Alphonse Tremblay
1946 - 1947 : Linh mục André Lamontagne
                       Linh mục Thomas Côté
1947 - 1953 : Linh mục Thomas Côté
1953 - 1956 : Linh mục Alphonse Tremblay
1956 - 1959 : Linh mục Tê-pha-nô Nguyễn Tín
1959 - 1961 : Linh mục Alphonse Tremblay
1961 - 1967 : Linh mục Jean-Marie Labonté
1967 - 1968 : Linh mục Phê-rô Ðặng Văn Ðào
1968 - 1972 : Linh mục Giu-se Nguyễn Thế Thuấn
                       Linh mục Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú
1972 -          : Linh mục Giu-se Trần Ngọc Thao

[Home]

Home | Nguyet San | Dong Chua Cuu The


Dong Chua Cuu The.
All rights reserved.
Email: ducme@cuuthe.com