ÐẾN VỚI NGƯỜI NGHÈO

LM. VŨ KHỞI PHỤNG, C.Ss.R.

LTS: Trong một Thánh lễ tạ ơn được cử hành hôm 13.8.2004 sau khi các Tu sĩ Học viện Dòng Chúa Cứu Thế kết thúc một tháng mục vụ hè 2004, Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng đã có bài chia sẻ về tinh thần dấn thân phục vụ người nghèo theo truyền thống Dòng Chúa Cứu Thế. Tựa đề bài chia sẻ là của Toà soạn.

Khi ngồi nghe anh em chia sẻ những công việc mình đã làm trong một tháng vừa qua, thì trước tiên tôi nhớ tới công trình của các anh em đã đi trước và đã gây dựng.

Ngày tôi còn ở đệ tử, tôi bắt đầu nghe nói tới vùng Phú Sơn, khi đó gọi là Fyan. Lúc đó nhà Dòng chúng ta mở một đồn điền, chung quanh còn là rừng rậm, còn nhiều thú hoang, có những con chim hồng hoàng với chiếc mỏ dày nhọn. Các cha Canađa chuẩn bị trao Phụ Tỉnh lại cho anh em Việt Nam đã rút dần vào đấy và bắt đầu mở ra hướng thừa sai cho dân ngoại. Cả một thế hệ đi đầu mở đường. Anh em đi lên Phú Sơn bây giờ, qua Rờ-lơm viếng mộ cha La Pointe, người mà đã bao nhiêu năm trời đi giảng đại phúc ở khắp các nơi trên đất nước Việt Nam này. Bao nhiêu xứ đạo ở Việt Nam cho đến nay còn nhắc tới cha. Những ngày cuối cùng khi đã chuẩn bị về với Chúa, cha La Pointe bắt đầu hôn mê và được nằm ở bệnh viện Nha Trang. Trong lúc hôn mê, cha nằm hát Kinh Vinh Danh bằng tiếng La-tinh, dường như rung hết cả nhà kính. Ðó chính là những người đi đầu. Chúng ta gặp lại cha Tài, chúng ta sẽ được nghe kể về những ngày tháng chiến tranh oanh tạc ở đây. Làng nọ buôn kia có người chết, cháy nhà cháy cửa. Trải qua tất cả những chuyện ấy đã làm nên vùng truyền giáo Phú Sơn của anh em chúng ta bây giờ.

Cũng thời tôi chuẩn bị rời nhà Tập để lên Học viện, thì vùng truyền giáo Châu Ổ được khai sinh. Cha Bề trên Phụ Tỉnh Việt Nam đầu tiên là cha Bùi Quang Diệm đã quyết định công cuộc này. Và các thế hệ Học viện chúng tôi cứ mỗi dịp hè lại kéo nhau ra Châu Ổ để nung nấu chí tông đồ. Những anh em đã nằm lại ở Châu Ổ, đó là cha Ðiềm, trong một đêm tối trời bị người ta mang súng vào bắn chết; thầy Phao-lô Phạm Mẫn, trong một đêm các em đang cắm trại thì bị oanh kích, thầy trúng đạn nhưng vẫn bồng một em bé chạy vào trong nhà, trao em bé lại cho một thầy khác rồi gục xuống chết, hiện nay mộ thầy đang ở An Ðiềm.

Trên vùng truyền giáo Tây Nguyên cũng vậy. Ba Cha: Tài, Phán, Tín đi từ vùng Phú Sơn lên Kon-tum lạ lẫm, chẳng biết làm gì, không tiền bạc, đúng như trong Tin mừng. Cũng có những người anh em đã nằm xuống trên dải đất đấy: thầy Mác-cô Ðàn. Sau bao nhiêu năm sống với người Thượng, cùng đi làm, cùng nói tiếng Thượng ..., cho nên theo như người ta nói các cha ở đây còn nói hay hơn người Thượng.

Cần Giờ cũng vậy. Ðời tôi còn ở Ðệ Tử, có cha xứ nghèo ở Cần Giờ rủ tôi sang đó chơi. Chúng tôi thuê thuyền sang Cần Giờ, nhưng đêm đó không ngủ được vì muỗi cắn quá. Cho đến năm đầu tiên Giáo phận giao cho chúng ta địa điểm Cần Giờ, cha Trần Văn Lượng đứng ra nhận. Lúc đó, từ Sài Gòn sang Cần Giờ chưa có đường như bây giờ. Muốn đi Cần Giờ phải ra Vũng Tàu, xuống bến đá đi ca nô hơn một giờ đồng hồ mới sang bên Cần Giờ. Cần Giờ lúc đó còn heo hút và hoang sơ.

Tất cả những chuyến đi đó của anh em mình đi trước, và bây giờ anh em Học viện tiếp tục đi. Anh em có một cơ nghiệp từ thế hệ trước giao lại cho chúng ta. Chúng ta ra đi như thế nào? Ra đi như chúng ta đọc thấy trong Tin mừng: Hồi ấy bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi vào miền núi, vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét, bà Ê-li-sa-bét được đầy Thánh Thần. Các thế hệ Nhà Dòng từ xưa đến nay cũng như vậy. Bà Ê-li-sa-bét là một người nghèo - đã già mà không có con nối dõi. Khi Ma-ri-a bước chân vào nhà, bà thấy có một niềm vui tràn đầy và cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa. Cuộc đời của nhà thừa sai cũng phải như vậy. Chúng ta bước chân đến với người nghèo, chúng ta chào hỏi họ thì có sự bình an và vui mừng đến với người ta. Người thừa sai đến với người nghèo thì không mang gì ngoại trừ niềm tin và niềm vui nơi Thiên Chúa. Niềm tin, niềm vui này anh em Học viện đã được hưởng từ những thế hệ đi trước, và cũng mong chia lại cho những anh em đi sau cũng một niềm tin, niềm vui ấy.

Tôi không được đi nhiều cũng như ở nhiều vào những vùng thừa sai; nhưng mà tôi nhớ vào năm 1997, lúc đó tôi ở bên Mỹ, tôi luôn muốn đi về Việt Nam. Có mấy người quen ở Mỹ nói với tôi: Anh làm cái quái gì mà ham về quá vậy, ở nhà có gì đâu. Tôi vội thưa rằng: Vâng, đúng là bên tôi chẳng có gì hết, so với bên này thì thua kém hết mọi sự, và phải nói là thua kém rất nhiều. Nhưng mà bên tôi có một điều này: Chúng tôi có niềm vui của dân nghèo. Niềm vui này Chúa ban cho những người thừa sai đã không mang theo mình cái gì khác ngoài Tin Mừng của Chúa và gặp được Tin mừng đó trong lòng của những người đang đón chờ mình, và khi ấy vui mừng nói với nhau: Ta thật có phúc vì đã tin vào những gì Chúa đã nói với chúng ta.

Lời ngợi khen Thiên Chúa của Mẹ Ma-ri-a được truyền từ đời này qua đời khác đến tận chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta vui mừng vì đã được đụng vào việc Thiên Chúa làm. Từ đời Ðức Ma-ri-a đến viếng thăm bà Ê-li-sa-bét, từ đời các tông đồ được Chúa Giê-su sai đi vào nhà nào chúc bình an cho nhà nấy và ở lại với người ta, từ đời Thánh An-phong-sô cưỡi lừa lên đường đến vùng đồi núi Scala để tìm đến với người nghèo, rồi đến các vị thừa sai trong Tỉnh Dòng chúng ta, hy vọng là trong tương lai với chúng ta nữa, chúng ta sẽ tìm thấy người nghèo, tìm thấy gương mặt của người nghèo và thấy việc của Chúa làm để có một niềm vui, mà chính niềm vui này Chúa Giê-su đã nói không phải là do thế gian ban. Niềm vui này sẽ ở lại và khiến cho chúng ta ăn rễ vào cuộc đời đi phục vụ Chúa trong những anh chị em nghèo nàn.

Trong lúc chia sẻ, anh em đã nhắc tới những thao thức, những vấn đề. Có nhiều khi đã có những người nghèo chạy theo chúng ta để có an ninh, để tìm chút quà cáp, bánh trái vì có đoàn ở thành phố đến thăm... Anh em băn khoăn nếu cứ như thế mãi thì sao? Nhưng chúng ta tìm đến với người nghèo không phải để cho người ta được hưởng cái này cái kia, nhưng như anh em nói: Chúng ta phải khơi dựng tình thương, niềm vui của người nghèo, chứ không phải là óc thủ lợi của người nghèo. Ðây là một phân biệt tế nhị. Nhưng khi chúng ta đưa Lời Chúa vào để sống với người nghèo, thì dần dần ý thức sẽ rõ lên. Niềm vui của người nghèo rất khác với sự thủ lợi của họ.

Với ơn Chúa, trong tháng vừa qua, chúng ta mở ra một đợt đi sâu vào thực tế, đi phục vụ Chúa giữa những người nghèo. Và hy vọng rằng đợt này cũng như bao đợt khác, từ đời xưa trong Học viện, sẽ giúp gây dựng trong anh em những ơn gọi được đến, được ở, được sống, được chia với người nghèo. Các địa điểm truyền giáo của chúng ta không phải một chốc lát đã được như vậy. Có những lúc chúng ta phải nhẫn nại hàng chục năm, nằm yên như con ve sầu không ca hát gì cả, nhưng có lúc lại bùng lên. Ước muốn được nói lời Chúa, sống lời Chúa luôn có ở trong anh em.

Khi chúng ta đi như vậy, Chúa sẽ mở cho chúng ta những môi trường. Có nhiều người đang tìm kiếm chúng ta. Tôi nhớ hôm vừa rồi xuống thăm anh em ở dưới Cà Mau, tới lúc về, cha Hạt trưởng đích thân đưa tôi ra bến xe. Tôi nói với ngài: Cha không cần phải đưa con đi đâu, cha cứ cho một anh em đưa con đi là được rồi. Ngài bảo tôi: Không phải con tốt mà con làm như vậy đâu, mà con đang nịnh cha đấy để trong tương lai cha còn gửi thêm người đến nữa, đừng đến một lần rồi về luôn. Tôi thấy các cha khác trong Hạt cũng có một thái độ tương tự, vì hiểu rằng những môi trường người nghèo mà mình được kêu gọi đến để chia sẻ cho họ một niềm vui còn nhiều. Ðiều này không thể nào của cải vật chất mua nổi, mà chỉ có tấm lòng giáp mặt với Lời Chúa, kinh nghiệm được đón lấy Chúa vào trong ơn gọi, trong đặc sủng của mình. Sứ mạng mình được Chúa sai đi nghĩ như là một cái gì cao xa, thực tế lại là cái gì rất gần với cuộc sống. Tất cả sẽ làm lên bài ca như bà Ma-ri-a đã cất lên trong Tin mừng. A men.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com