LỊCH SỬ GIÁO HỘI: 1000 NĂM QUA

 

Khi nhân loại bắt đầu bước qua ngưỡng cửa của một thiên niên kỷ mới, đệ tam thiên niên kỷ, việc nhìn lại 1.000 năm qua với những biến cố và nhân vật đã để lại dấu ấn trong lịch sử Giáo Hội là điều cần thiết. Sau đây là danh sách 25 biến cố và nhân vật mà nhiều giáo sư Công Giáo nhìn nhận là quan trọng nhất trong lịch sử Giáo Hội 1.000 năm qua.

1054 Cuộc Ly Giáo Giữa Ðông Phương và Tây Phương. Do việc ra vạ tuyệt thông lẫn nhau tại Constantinople (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) giữa Ðức Hồng y Humbert, đại diện Giáo hoàng Lêô IX, và Ðức Thượng Phụ Micae Cêrulariô của Giáo Hội Ðông phương, Kitô giáo từ giờ trở đi bị chia thành các giáo hội Chính Thống của Ðông phương và Giáo hội Công Giáo Latinh của Tây phương.

1096 Cuộc Thập Tự Chinh Bắt Ðầu. Ðức Thánh Cha Urbanô II vận đông để chiếm lại Thánh Ðịa bị quân Hồi giáo xâm lăng và như thế khởi sự gần 2 thế kỷ chiến tranh tôn giáo giữa Công Giáo và Hồi Giáo, và kết thúc với việc thành phố hải cảng Acre ở Syria (tiền đồn cuối cùng của thập tự quân) rơi vào tay Hồi giáo vào năm 1291. Cùng với các cuộc Thập tự chinh, một số hội dòng được lập ra để ủng hộ Thập tự chinh và tiếp đón khách hành hương về Thánh Ðịa. Hành hương trở thành một phần quan trọng trong đời sống tôn giáo của tín hữu thời kỳ này cũng như thương mại giữa Ðông phương và Tây phương được phát triển.

1209-1215 Các Dòng Khất Thực. Những nhà giảng thuyết lưu động như Thánh Phanxicô và Thánh Ðaminh đã lập Dòng Phanxicô và Ðaminh để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống thiêng liêng và tri thức của Giáo Hội.

1215 Công Ðồng Latêranô IV. Ðây là công đồng quan trọng nhất thời Trung cổ vì đã định thức hoá học thuyết biến đổi bản thể (transubstantion) trong niềm tin của Kitô hữu về Phép Thánh Thể. Ngoài ra, Công đồng này còn đưa ra một số cải cách, trong đó có việc qui định buôc Xưng tội và Rước Lễ hàng năm vào mùa Phục Sinh.

1265-1273 Tổng Luận Thần Học (Summa Theologiae). Ðây là tác phẩm nổi bật nhất của Thánh Tôma Aquinô về thần học mà đã ảnh hưởng đến tư tưởng Kitô giáo Tây phương cho đến ngày nay.

1452-1455 Cuốn Kinh Thánh In Ðầu Tiên. Cuốn Kinh Thánh Gutenberg là cuốn sách in đầu tiên, đánh dấu bước khởi đầu trong cuộc cách mạng truyền thông và văn hoá để lại ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tôn giáo, giáo dục, thương mãi, chính trị và nghệ thuật.

1483-1498 Toà Án Tôn Giáo ở Tây Ban Nha. Vào thời cao điểm của chiến dịch chống lại dị giáo dưới thời Ðại Thẩm tra Torquemada (1420-1498), khoảng 2.000 người bị tử hình.

1492 Khám Phá Châu Mỹ. Chuyến du hành đến Châu Mỹ của Côlombô đã đưa Kitô giáo đến Tân Thế Giới. Thời kỳ này bắt đầu nỗ lực truyền giáo toàn cầu của Giáo Hội một cách mạnh mẽ sang đến tận Châu Phi, Châu Á và Châu Ðại Dương.

Thế Kỷ 16 với Nền Nghệ Thuật Phục Hưng. Những tác phẩm nghệ thuật bất hủ của các danh hoạ và đại kiến trúc sư như Michelangelo, Raphael, Leonardo da Vinci và nhiều người khác dưới sự bảo trợ của Giáo Hội. Ðây là tiêu biểu cho sự đóng góp về văn hoá của Giáo Hội cho thế giới trong việc cổ võ nghệ thuật và kiến trúc như là các phương thế diễn tả tôn giáo.

1517-1521 Phong Trào Cải Cách Tin Lành. Martinô Lutêrô đã treo 95 tiểu luận tôn giáo ở Wittenberg (Ðức) vào năm 1517, thách đố một số sai lầm của Giáo Hội trong việc giảng giải ơn xá lúc bấy giờ. Nhưng sau đó, Lutêrô còn đi xa hơn nữa trong việc thách thức Huấn quyền Giáo Hội về các vấn đề đức tin khác. Lutêrô bị vạ tuyệt thông vào năm 1521 nhưng quan điểm thần học sai lầm của ông được Calvin sau này hệ thống hoá, và như thế bắt đầu một cuộc đại phân ly lớn lần thứ 2 trong lịch sử 2000 năm của Kitô giáo với việc xuất hiện nhiều giáo hội Tin Lành.

1534 Ðạo Luật Chủ Quyền. Nhà vua Henry VIII của Anh vì không được Giáo Hội cho phép ly dị vợ mình để kết hôn người khác nên đã ra Ðạo luật Chủ quyền (Act of Supremacy) để lập Anh giáo mà ông là Giáo chủ.

1539-1540 Thánh Inhaxiô Loyola. Dòng Chúa Giêsu hay thường gọi là Dòng Tên được Giáo Hội nhìn nhận sẽ có nhiều ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống Giáo Hội, nhất là trong lãnh vực giáo dục.

1545-1563 Công Ðồng Trent. Phản ứng của Giáo Hội trước trào lưu Cải Cách của Tin Lành đã đem lại nhiều cải cách, trong đó có việc thành lập các chủng viện, canh tân phụng vụ, và ra bộ giáo lý chung cho cả Giáo Hội.

1596 Hiệp Ước Brest-Litovsk. Thoả hiệp thống nhất Giáo hội Chính Thống Rutênia ở Ukraine với Giáo hội Công Giáo Ba Lan trở thành mô hình chính trong việc hồi phục sự hiệp nhất giữa Giáo hội Công Giáo và Chính thống giáo trong gần 400 năm.

1633 Galilêô Bị Lên Án. Toà Thánh Vatican kết án việc giảng dạy thuyết nhật tâm Copernic (mặt trời là trung tâm vũ trụ) của Galilêô là đi ngược lại với Thánh Kinh. Ðiều này tạo ra một sự căng thẳng kéo dài giữa Giáo Hội và khoa học hiện đại cho đến thế kỷ 20.

1789-1801 Cách Mạng Pháp và Thoả Ước 1801. Nền quân chủ Pháp bị lật đổ, Giáo Hội Pháp bị bách hại và chính phủ thế tục nắm quyền. Sau đó Thoả ước 1801 được ký kết giữa Ðức Piô VII và Hoàng đế Napoléon của Pháp bảo đảm Giáo Hội được tự do thờ phượng và chọn hàng giám mục đã kết thúc các cuộc chiến giữa những lực lượng chống đạo và Công Giáo.

1848-1870 Nước Toà Thánh Bị Mất. Các phong trào quốc gia nổi lên tại Ýđã thu hẹp Nước Toà Thánh mà cao điểm là việc chính phủ Ý chiếm Rôma chọn làm thủ đô và thu hẹp Nước Toà Thánh còn một phần đất nhỏ tí tại Rôma được biết dưới tên Vatican.

1850s-1900s Các Tín Ðiều và Lòng Tôn Sùng Ðức Maria. Ðức Thánh Cha công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854) và Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (1950). Ðức Mẹ hiện ra tại Lộ Ðức (1858), Knock (1879), Fatima (1917) tăng thêm lòng sùng mộ của tín hữu đối với Mẹ Maria. Một số hội dòng hay hội đoàn được thành lập lấy tên Mẹ Maria; Ðạo binh Ðức Mẹ (Legio Mariae) phổ biến khắp nơi; Ðại hội Thánh Mẫu Quốc tế được tổ chức.

1869-1870 Công Ðồng Vatican I. Ðây là Công đồng đầu tiên kể từ Công đồng Trent (1545-1563). Công đồng khẳng định quyền bất khả ngộ của Ðức Giáo hoàng khi ngài long trọng tuyên bố trong vấn đề đức tin và luân lý.

1878-1903 Ðức Thánh Cha Lêô XIII. Năm 1879, ngài phục hồi việc giảng dạy thần học của Thánh Tôma Aquinô trong tất cả chủng viện. Thông điệp Rerum Novarum ("Tân Sự") của Ðức Lêô XIII vào năm 1891 về điều kiện lao động đánh dấu bước khởi đầu của giáo huấn xã hội Công Giáo hiện đại.

1939-1945 Ðệ II Thế Chiến. Cuộc thảm sát rất nhiều người dân vô tội và việc sử dụng các vũ khí tối tân, kể cả vũ khí nguyên tử làm cho Giáo Hội ý thức mãnh liệt hơn về sứ mạng cổ võ hoà bình giữa các dân tộc. Ngoài ra, việc Hitle tiêu diệt 6 triệu người Do thái đã thúc đẩy việc nhìn lại thái độ của người Công Giáo và Kitô hữu nói chung đối với người Do thái trong quá khứ.

1945-1990 Chủ Nghĩa Cộng Sản Nổi Dậy và Suy Sụp. Cuộc bách hại tôn giáo bắt đầu với cuộc Cách mạng Nga năm 1917 đã lên đến cực điểm theo sau Thế Chiến II khi Chủ nghĩa Cộng sản bành trướng khắp Ðông Âu, Trung Quốc, Bắc Hàn và Bắc Việt, tạo ra một trang sử mới viết bằng dòng máu tử đạo hiện đại. Chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ tại Ðông Âu và Liên Xô năm 1989 khôi phục lại tự do tôn giáo cho hàng triệu tín hữu.

1962-1965 Công Ðồng Vatican II. Công đồng nỗ lực dấn thân trong cuộc sống thế giới hiện đại, canh tân phụng vụ, học hỏi Thánh Kinh, và hầu như mọi khía cạnh của cuộc sống Công Giáo, nhất là qua việc nhấn mạnh ơn gọi thánh hoá của mọi Kitô hữu cũng như vai trò tích cực của giáo dân.

1978 Bầu Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo hoàng không phải người Ý kể từ năm 1523. Triều đại của Giáo hoàng đương kim nổi bật với việc áp dụng huấn giáo của Công Ðồng Vatican II, cổ võ mạnh mẽ việc Phúc âm hoá trong thiên niên kỷ thứ 3, coi sóc việc soạn bộ Giáo luật mới cho Giáo hội Công Giáo Latinh và Công giáo Ðông phương, bộ Giáo lý mới cho Giáo Hội hoàn vũ, khuyến khích các phong trào giáo dân. Ngài đã công du mục vụ khắp thế giới với hơn 700.000 dặm Anh du hành, một kỷ lục hơn cả số dặm du hành của tất cả các Ðức Thánh Cha tiền nhiệm.

(Theo CNS)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com