Hỏi : Thưa Cha, có phải dân tộc Do Thái là dân đã bị chúc dữ vì đã giết Thiên Chúa không? Lập trường của Giáo Hội đối với dân Do Thái như thế nào? Nguyễn Hùng , Wiscosin Ai là thủ phạm giết Con Thiên Chúa? Theo lịch sử thì một nhóm thủ lãnh Do Thái với vài trăm người bị dụ dỗ, một quan tổng trấn Lamã và một nhóm người Syrianô thuộc đạo quân thứ 10 đồn trú tại Palestina đã nhúng tay vào việc giết Con Thiên Chúa. Tuy vậy, trong nhóm thủ lãnh, ông Giuse xứ Arimathia không đồng ý (Lc 23:51) và Hội đồng Cộng toạ Sanhedrin lo sợ một "cuộc xáo trộn nơi dân chúng" (Mt 26:5). Giuse đã bênh vực Chúa. Vì thế, Công Ðồng Vatican II tuyên bố: "Dầu rằng các thủ lãnh Do Thái và bộ hạ, đã xúi dục giết Chúa Kitô, nhưng những điều xúc phạm đến Chúa trong cuộc tử nạn không thể qui tội một cách chung cho cả dân tộc Do Thái thời ấy cũng như thời nay. Và vì Giáo Hội là dân tộc mới của Thiên Chúa thì không nên hình dung dân Do Thái là một dân tộc bị kết án và bị Chúa chúc dữ, như một dữ kiện phát xuất từ Thánh Kinh" (Tuyên ngôn về dân Do Thái, số 4). Sự thật căn bản là Chúa Kitô là "Con Chiên Thiên Chúa đã gánh tội trần gian" (Jn 1:29) và "Chúa Kitô đã đến trong thế gian để cứu chuộc người tội lỗi trong đó có tôi và là người thứ nhất" (1 Tim 1:15). Cứu chuộc bằng hy sinh: "Và Ngài là của hy sinh đền tạ các tội lỗi ta, không những tội lỗi của ta mà thôi, mà của tất cả thế gian nữa." (1Jn 2:2). Vậy kẻ giết Thiên Chúa chính là tất cả mọi người tội lỗi. Và người giết Thiên Chúa hơn ai cả, chính là người Kitô hữu, vì họ biết việc họ làm. Phêrô có thể nói với dân Do Thái: "Tôi biết anh em làm điều ấy vì không hiểu biết, các thủ lãnh anh em nữa" (Cn 3:17). Và chính Chúa Kitô trên thập giá cũng đã thốt ra: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm". Chính Thánh giá Chúa Kitô là nguyên do phần rỗi, là tiếng gọi hiệp nhất. Vì thế, Công Ðồng dạy mọi người "phải thận trọng, trong lời giảng, bài dạy, phải dạy đúng sự thật Phúc Âm và tinh thần Chúa Kitô". Giáo hội lên án mọi cuộc bách hại mọi hiềm thù chống Do thái đã xảy ra trong mọi đời, và những người đã gây nên (số 4). Sau cuộc giết hại 6 triệu người Do Thái của Hitler, lương tâm người Kitô hữu đã khơi động, mùa hè năm 1947 mội đại hội (Conférence de Seclisberg) ở Thụy Sĩ gồm 60 nhà thần học thuộc 9 nước, đã nhóm họp để cổ võ tình hữu nghị bác ái với dân Do Thái những tài liệu của Hội nghị đã thay đổi nhiều não trạng và hướng dẫn việc dạy giáo lý về vấn đề Do Thái, trước khi có Công đồng. Toà Thánh đã làm nhiều để giúp đỡ người Do Thái. Ðức Piô XII đã khuyến khích Giám Mục Berlin, Conrad von Preysing và các Giám Mục Tây Ðức ra một thư chung ngày 22-2-1943 để lên án chủ thuyết chủng tộc, bài Do Thái của Hitler. Sau Thế chiến, đại hội những người di cư Do Thái đã cử 60 đại biểu qua Lamã cám ơn Ðức Giáo Hoàng vì đã trợ giúp những người Do Thái ở Hung Gia Lợi và khắp nơi trên thế giới. Ðức Gioan XXIII sửa đổi lời cầu nguyện cho người Do Thái ngày thứ Sáu Tuần Thánh thay vào câu: hãy cầu nguyện cho người Do Thái bất trung có từ trước, từ nay Giáo Hội cầu nguyện cho người Do Thái: "đã được Chúa mạc khải đầu tiên, để họ mạnh tiến trong tình yêu mến Danh Thánh Ngài và trung thành với Giao Ước". (Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh). Hỏi : Con đọc trong Kinh Thánh câu này: Hễ ai không sinh lại bởi nước và Thánh Thần thì không được vào nước trời. Vậy con muốn biết những người ngoại đạo, họ không sinh lại bởi nước và Thánh Thần thì họ có được rỗi không? Nguyễn Việt, Boston Câu trích dẫn là lời của Chúa Giêsu nói cùng Nicôđimô: "Quả thật, quả thật, tôi bảo ông, ai không sinh bởi nước và Thánh Linh thì không thể vào được Nước Thiên Chúa" (Gioan 3:5). Chúa ám chỉ một cuộc tái sinh thiêng liêng một cuộc tạo dựng mới do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Lúc khởi thủy thế giới và vật chất xuất hiện từ khối nước trên do Thần Khí Thiên Chúa bay lượn (Gen 1:1) thì nay nhân loại cũng được tái sinh, trong cuộc sống thiêng liêng nhờ nước phép rửa tội và Chúa Thánh Thần (Gioan 3:5). Vậy, những người không được biết Chúa, không được ơn Rửa tội, có được cứu rỗi không? Công đồng Vaticanô II tuyên bố: "Vì Chúa Kitô đã chịu chết cho hết mọi người và tất cả mọi người được mời gọi trở nên con Chúa, nên chúng ta phải tin chắc rằng, bằng một cách nào đó chỉ có Chúa biết, Thánh Thần Thiên Chúa cũng ban cho hết mọi người phương thế để thông phần mầu nhiệm phục sinh". Phương thế ấy là gì? Theo các nhà thần học là một ý thức làm lành lánh dữ. Hay nói cách khác là sống theo lương tâm của mình. Thiên Chúa không đòi hỏi ở họ cái gì khác ngoài việc làm theo tiếng nói của lương tâm. Ðối với họ, lương tâm là sự thật "Ai theo sự thật là tìm thấy ánh sáng" (Gioan 3:21). Ðể vào nước trời, chỉ có một cửa chính là phép Bí Tích Rửa Tội, nhưng Thần Linh Thiên Chúa "như một luồng gió" (Gioan 3:8) có thể đưa vào bằng những kẽ hở khác vậy. Giáo lý ấy phản ảnh lời giảng dạy của Thánh Phaolô khi ngài viết: "Vì không phải hễ nghe luật là công chính, trước mặt Thiên Chúa, song giữ Luật mới nên công chính. Vì thứ dân ngoại không có Luật, nhưng theo lương năng mà làm những điều Luật dạy, thì họ những kẻ không có Luật, họ là luật cho chính họ. Những người như thế cho thấy rằng việc Luật dạy đã được viết trong lòng họ. Khi mà lương tâm họ hoạ theo làm chứng và những suy tính nảy lên mà cáo tội hay biện hộ cho nhau" (Rom 2:13-15). Hỏi : Thưa Cha, xin Cha cho biết vì sao Mình Thánh Chúa lại được giữ trong nhà tạm và nhà tạm lại để bên bàn thờ cạnh, không để ở giữa. Nếu đặt ở giữa, phải chăng bàn thờ Mình Thánh Chúa sẽ được chú ý và tôn thờ hơn. Quang Long, Dallas Theo lịch sử Phụng vụ thì việc giữ Mình Thánh Chúa trong nhà tạm trước tiên là để dành cho người bệnh nhân, như "của ăn đàng" khi cần thiết. Theo Công đồng thì Giáo hội tiếp tục giữ Mình Thánh Chúa trong nhà thờ với mục đích nói lên sự hiện diện của Chúa Kitô giữa dân Ngài, để cho dân Chúa thờ lạy và cảm tạ. Sự hiện diện của Chúa cũng là sứ mạng phục vụ dân Chúa (Sắc lệnh về Chức vụ và Ðời sống Linh mục, số 5-18). Việc lưu giữ Mình Thánh Chúa có một quá trình lịch sử hi hữu, mà chúng tôi hiến độc giả sau đây theo một chuyên viên Phụng vụ, Cha Dom Guy Oury dòng Biển Ðức, trong các nét đại cương. Trong ba thế kỷ đầu: Thánh Justinô (165) đã mô tả cuộc hội họp ngày Chủ nhật như là "một cuộc chia sẻ các vật thánh cho mỗi người và những người vắng mặt được các vị phó tế mang đến tận nhà". Vào thế kỷ III, các linh mục lưu giữ Mình Thánh Chúa tại nhà và cả giáo dân nữa cũng được vinh dự ấy. Thánh Hippolyte (thế kỷ 3) viết: "Mỗi người phải ý thức đừng để cho người ngoại đạo ăn bánh thánh, hoặc chuột hay con vật khác gậm, Mình Thánh được cất trong tủ. Không được để cho mất mát hoặc rơi xuống đất, vì đây là Mình Chúa Kitô, không được khinh dể. Ðây là của ăn người tín hữu". Giáo phụ Tertullien khuyên đừng lập hôn nhân với người khác đạo: "Chồng bà không được biết bà ăn gì một cách âm thầm trước khi dùng một của ăn khác. Nếu ông biết bánh ấy, ông sẽ không tin nếu bà nói sự thật" (Ad uaeorel liber II c. 4). Thánh Thể được lưu giữ trong một chiếc hộp mỹ thuật cất trong tủ. Nếu trong gia đình chỉ có một người đã chịu phép Rửa tội duy nhất thì người ấy mang Mình Thánh trong một túi nhỏ trên ngực. Thánh Damase (384) trong một bài văn đã ca ngợi Thánh Tarcisius là "đã thí mạng sống hơn là trao Mình Thánh cho bầy chó dại". Sau nghị định của Constaninô năm 313, hoà bình đã trở về trong Giáo hội thì Mình Thánh Chúa lại trở về trong nhà thờ, nhưng được đặt một nơi riêng dành cho người đã được rửa tội, tân tòng chuẩn bị thanh tẩy không được tham dự. Mình Thánh Chúa được đặt trong một "nhà tạm" có hình chiếc tháp trên có hình chim câu bay trong một chiếc bình có hình chim câu treo trên bàn thờ. Trong các cuộc du hành, Mình Thánh cũng được mang theo. Khi Ðức Giáo Hoàng xuật hành, Mình Thánh được mang theo trong một chiếc hộp vàng, dưới một phương du, đặt trên con ngựa trắng được trang sức lộng lẫy. Từ thế kỷ thứ VIII, Mình Thánh được đặt trên bàn thờ trong một nhà tạm vững chắc. Giáo luật ấn định thể thức, Nhà tạm phải bất di bất dịch (G.L. số 938) Phải có một chiếc đèn chầu ngày đêm thắp sáng (G.L. số 940). Sắc lệnh ngày 1-6-1957 qui định bàn thờ giữ Mình Thánh phải ở ngoài bàn thờ chính, trong nhà nguyện Thánh Thể. Hỏi : Con có một người bạn gái thân. Cô ta là goá phụ được 6 năm (chưa có con). Hiện cô lỡ yêu một người có gia đình và đã mang thai với người ấy. Lâu nay tâm hồn cô bị dày vò chưa dám đi xưng tội và băn khoăn vì hai lẽ: Khi đem con đi rửa tội, cô có phải khai hay bỏ tên người cha của nó? Và cô có phải khai thú trước các đại diện không? Anita M, Texas Con nên nói với cô ta chấm dứt mối tình vô vọng ấy và nếu cần làm lại cuộc đời với một người có thể làm phép hôn phối với cô ta, để chính thức nên vợ nên chồng. Về hoàn cảnh éo le này, con nói với cô là đừng thất vọng. Sau khi sinh con, cô ấy hãy đem cháu đi rửa tội và lo nuôi dạy cháu. Về việc ghi tên vào sổ Rửa tội, Giáo Hội đã qui định như sau: 1. Các cha chính xứ phải rất sớm ghi tên các người đã được rửa tội cùng với tên vị chủ sự, cha mẹ và người đỡ đầu, ngày và nơi rửa tội (G.L. số 887). 2. Về những đứa con ngoại hôn. Phải ghi tên người mẹ, nếu người mẹ công khai nhìn nhận, hoặc chính thức viết giấy hoặc trước hai người chứng xin ghi tên. Về tên của người cha, nếu chính người cha ấy tự ý viết giấy hoặc với hai người chứng, xin với cha sở, hoặc do một tài liệu chính thức thì ghi tên. Trong mọi trường hợp khác chỉ ghi: con của người cha vô danh hoặc do cha mẹ vô danh. Vậy trong trường hợp trên đây, cô ấy chỉ cần ghi tên đứa con, ghi tên người cha là vô danh và không phải khai thú điều này thêm với ai cả. Hỏi : Khi linh mục đi giúp kẻ liệt, ngài lấy Mình Thánh Chúa ở Nhà thờ đem theo để trao cho bệnh nhân hay ngài có thể lấy bánh lễ chưa làm phép tới nhà kẻ liệt mới làm phép rồi trao cho kẻ liệt? Vũ Nguyễn, New Jersey Ngày xưa, Thánh lễ được Ðức Giám Mục cử hành ngày Chúa Nhật. Mình Thánh được trao cho giáo dân chịu, một phần được trao giữ lại dành cho bệnh nhân. Ðó là gốc tích việc giữ Mình Thánh Chúa trong Nhà Tạm ngày nay. Vậy, khi linh mục được mời đến giúp bệnh nhân, hai trường hợp có thể xảy ra: Một là vị linh mục lấy Mình Thánh Chúa đã có sẵn và lưu giữ trong Nhà Tạm để đem theo và cho bệnh nhân rước. Hai là ngài đem theo đồ lễ và đến làm lễ trong nhà bệnh nhân rồi cho bệnh nhân rước lễ. Không có linh mục nào đã học Giáo Luật mà có thể lấy bánh lễ chưa làm phép tới nhà kẻ liệt truyền phép, rồi trao cho kẻ liệt, ngoài Thánh Lễ, như câu hỏi ám chỉ. Hỏi : Con đi lễ ở Nhà thờ Việt Nam. Nghe cha quản nhiệm ở đó giảng, con có cảm tưởng ngài không dọn bài giảng gì cả, hầu như chỉ trông vào ơn Chúa Thánh Thần soi sáng. Có luật nào trong Hội Thánh buộc các cha dọn bài giảng không? Trần L., Florida Giáo luật cho biết có hai phương thế để truyền bá lời Chúa là giảng và dạy: Giảng rao lời Chúa và dạy Giáo lý. Bổn phận ấy trước tiên là của Giáo Hoàng và Giám mục (G.L. 756). Việc rao giảng là một bổn phận (G.L. 762). Bài giáo huấn (Homily) là thể thức chính yếu và cũng là yếu tố của Phụng vụ ngày Chúa Nhật, tất nhiên, cần được chuẩn bị, suy tư trước. Trong lớp mục vụ, các linh mục được khuyến cáo nên nghĩ đến bài giảng ngay từ vài ngày đầu mỗi tuần. Phần chủ động và đóng góp của linh mục rất quan trọng. Chúa Thánh Thần giúp đỡ nhưng không thay thế người chuyển đạt lời Chúa. Vì vậy, vị giảng thuyết lời Chúa cần phải suy tư, cầu nguyện, dọn bài cẩn thận trước. Lacordaire, nhà giảng thuyết biệt tài có nói: "Giảng là ném cả tâm hồn mình vào tâm hồn thính giả." Tuy nhiên, người giáo dân cũng phải thông cảm với các vị giảng thuyết. Giảng thuyết là một bổn phận khó khăn mà không phải ai ai cũng có biệt tài hay dễ dàng về nghệ thuật ấy. Thánh Phanxicô Salêsiô, sau bài giảng đầu tiên phải nằm liệt giường. Thánh Charles Boromeo run đến độ trong nhiều năm không dám bước lên toà giảng trang trọng nằm giữa lòng nhà thờ. Chỉ đứng gần bàn thờ, càng xa thính giả bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Nhiều khi giáo dân quá đòi hỏi nơi các cha giảng mà quên đi những khó khăn họ phải gặp. Văn hào Francois Mauriac của Pháp mô tả một cách châm biếm quang cảnh trong nhà thờ khi một vị linh mục kia giảng và kết luận như sau: "Dòng tu nói về Thiên Chúa hay hơn cả là Dòng Bênêđictô vì các ngài không bao giờ bước lên toà giảng." Vậy, anh em linh mục chúng tôi dốc lòng dọn bài giảng cẩn thận thì anh em tín hữu cũng phải quyết tâm đón nhận lời Chúa, bỏ cái tệ đoan ra ngoài hút thuốc, hứng gió, tán gẫu chờ hết giảng là đi vào. Nhất là đừng quá tự ái, khi bài giảng đánh động vào một vài khuyết điểm của ta. Con quỷ "Grapin" nói với Thánh Gioan Vianney là người đã đương đầu với ma quỷ trong 38 năm như sau: "Tôi rất thích bài giảng vô thưởng vô phạt, không đụng chạm ai, và cho họ tự do sống theo sở thích, làm theo những gì họ muốn!" Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |