Hỏi : Chúa Giêsu nói ngày tận thế kẻ chết sống lại và chịu phán xét chung. Nếu sống lại cả hồn cả xác thì những những người đi biển, bị mất xác làm mồi cho cá biển thì làm sao xác họ lại nguyên vẹn được để dự phán xét?

H.Thúy – San Jose

Chúng ta đọc Kinh Tin Kính: Tôi tin xác loài người sẽ sống lại. Ðó là một tín điều.

Công đồng Latran IV, năm 1215, tuyên bố: Mọi người sẽ sống lại với thân xác của mình hiện có hôm nay. Và Công đồng Lyon II năm 1274 tuyên bố: Chúng tôi tin xác của chúng tôi đang có hiện tại sẽ sống lại.

Sự kiện ấy sẽ thực hiện như thế nào?

Một điều rõ rệt là xác thánh Chúa Giêsu sống lại chính là xác thánh của Ngài trước khi chịu chết, xác thánh đã chịu đau khổ. Ðành rằng xác thánh phục sinh ấy đã vượt ra ngoài định luật trọng lượng và không gian, nhưng không phải là một xác ma mà là xác thánh, trước sau là một. Ðọc Phúc âm Thánh Luca 24:36-43, chúng ta thấy như vậy. Chúa phán cùng các môn đệ: "Hãy nhìn xem tay tay và chân Thầy… chính là Thầy đây. Hãy sờ xem, ma nào lại có thịt có xương như các người thấy Thầy có" (Lc 24:39).

Vậy việc phục sinh sống lại của Chúa Giêsu là hình ảnh cuộc sống lại của chúng ta. Chúng ta sẽ sống lại với thân xác của chúng ta có. Nhưng làm sao được?

Một người rơi xuống biển, bị cá mập đớp. Người ngư phủ đánh được con cá mập ấy, xé thịt ăn… còn đâu xác của người bất hạnh để sống lại?

Ngày nay, các nhà thần học không còn bận tâm mệt óc với vấn đề ấy. Chính các nhà sinh vật học cũng ghi nhận rằng các tế bào luôn luôn đổi mới trong cùng một con người, như nước trong bồn luôn luôn chảy. Khoa học cho biết trong vòng 6 tháng một tế bào trong con người, kể cả xương, đều được đổi mới. Nhưng bạn vẫn là bạn, từ đứa bé ụ mẫm cho đến cụ già hôm nay. Tế bào thay đổi, vật chất lưu chuyển như nước của giòng sông cái nhưng con sông vẫn là con sông của năm xưa bến cũ.

Vậy việc thể xác sống lại duy nhất không nên hiểu theo định luật sinh vật "việc thể xác sống lại là một sự thay đổi nhiệm mầu của mọi người, làm nẩy nở một sự vật khác với thể xác cũ như hoa phát xuất từ hạt nhưng vẫn là một sự vật khác với những đặc điểm của thể xác. Làm sao? Ðó là một mầu nhiệm". (J. Guillet). (đọc I Cor 15:35-38).

Back to Top Back to Top


Hỏi : Thưa Cha, trong Kinh Tin Kính, chúng ta đọc: chết và táng xác, xuống ngục Tổ tông… Xuống Ngục Ttổ tông là gì?

T. Hoàng, MI

Ðây là một câu khó hiểu, nhưng là một tín điều được ghi trong Kinh Tin Kính. Chúa đã chịu đóng đinh, đã chết và được táng xác. Sau đó, trong khi xác Thánh Ngài nằm trong mồ thì linh hồn Ngài đã xuống ngục tổ tông thông báo cho mọi người đã chết biết giờ cứu rỗi đã điểm. Thánh Phêrô trong thư thứ nhất của Ngài đã nói rõ: "Ngài đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tác sinh về Thần Khí. Nhân cơ hội, Ngài đã đi rao giảng cho các thần linh, "Và vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo cho cả những kẻ chết: cho nên theo loài người, thì họ bị phán xét về xác thịt: nhưng theo Thiên Chúa, thì họ được sống về thần khí." (1 P 4:6) – Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Ngục Tổ tông là gì? Theo các nhà thần học, không phải là một nơi nhất định cho bằng một trạng thái của những người chết trước khi Chúa Cứu Thế mở cửa trời, trạng thái mà cho dễ hiểu, người ta hay gọi là một nơi và từ thế kỷ XII, giáo dân quen ám chỉ bằng danh từ limbe (lâm-bô). Chúa Giêsu vừa tắt thở thì linh hồn Ngài đến với ức triệu người đã chết từ ngày khai thiên lập địa và đang chờ ngày Cứu rỗi. Họ là những thánh tổ phụ, đang đợi chờ Ðấng Mêsia. Họ là những người bất chính, những tay sai của Satan để phải khâm phục quyền năng Thiên Chúa và lãnh án phạt mà lâu nay Chúa còn kiên nhẫn chưa giáng xuống. Các thánh theo Ngài vào Thiên đàng, các người bất chính bị xua xuống hỏa ngục.

Ðó là ý nghĩa tín điều: xuống ngục tổ tông.

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Thưa Cha, có phải dân tộc Do Thái là dân đã bị chúc dữ vì đã giết Thiên Chúa không? Lập trường của Giáo Hội đối với dân Do Thái như thế nào?

Nguyễn Hùng – WI

Ai là thủ phạm giết Con Thiên Chúa?

Theo lịch sử thì một nhóm thủ lãnh Do Thái với vài trăm người bị đầu độc, một quan tổng trấn Lamã và một nhóm người Syrianô thuộc đạo quân thứ 10 đồn trú tại Palestina đã nhúng tay vào việc giết Con Thiên Chúa. Tuy vậy, trong nhóm thủ lãnh, ông Giuse xứ Arimathia không đồng ý (Lc 23:51) và Hội đồng Cộng toạ Sanhedrin lo sợ một "cuộc xáo trộn nơi dân chúng" (Mt 26:5). Giuse đã bênh vực Chúa. Vì thế, Công Ðồng Vatican II tuyên bố: "Dầu rằng các thủ lãnh Do Thái và bộ hạ, đã xúi dục giết Chúa Kitô, nhưng những điều xúc phạm đến Chúa trong cuộc tử nạn không thể qui tội một cách chung cho cả dân tộc Do Thái thời ấy cũng như thời nay. Và vì Giáo Hội là dân tộc mới của Thiên Chúa thì không nên hình dung dân Do Thái là một dân tộc bị kết án và bị Chúa chúc dữ, như một dữ kiện phát xuất từ Thánh Kinh" (Tuyên ngôn về dân Do Thái, số 4).

Sự thật căn bản là Chúa Kitô là "Con Chiên Thiên Chúa đã gánh tội trần gian" (Jn 1:29) và "Chúa Kitô đã đến trong thế gian để cứu chuộc người tội lỗi trong đó có tôi và là người thứ nhất" (1 Tim 1:15). Cứu chuộc bằng hy sinh: "Và Ngài là của hy sinh đền tạ các tội lỗi ta, không những tội lỗi của ta mà thôi, mà của tất cả thế gian nữa." (1Jn 2:2).

Vậy kẻ giết Thiên Chúa chính là tất cả mọi người tội lỗi. Và người giết Thiên Chúa hơn ai cả, chính là người Kitô hữu, vì họ biết việc họ làm. Phêrô có thể nói với dân Do Thái: "Tôi biết anh em làm điều ấy vì không hiểu biết, các thủ lãnh anh em nữa" (Cn 3:17). Và chính Chúa Kitô trên thập giá cũng đã thốt ra: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm".

Chính Thánh giá Chúa Kitô là nguyên do phần rỗi, là tiếng gọi hiệp nhất. Vì thế, Công Ðồng dạy mọi người "phải thận trọng, trong lời giảng, bài dạy, phải dạy đúng sự thật Phúc Âm và tinh thần Chúa Kitô". Giáo hội lên án mọi cuộc bách hại… mọi hiềm thù chống Do thái đã xảy ra trong mọi đời, và những người đã gây nên (số 4).

Sau cuộc giết hại 6 triệu người Do Thái của Hitler, lương tâm người Kitô hữu đã khơi động, mùa hè năm 1947 mội đại hội (Conférence de Seclisberg) ở Thụy Sĩ gồm 60 nhà thần học thuộc 9 nước, đã nhóm họp để cổ võ tình hữu nghị bác ái với dân Do Thái – những tài liệu của Hội nghị đã thay đổi nhiều não trạng và hướng dẫn việc dạy giáo lý về vấn đề Do Thái, trước khi có Công đồng. Toà Thánh đã làm nhiều để giúp đỡ người Do Thái. Ðức Piô XII đã khuyến khích Giám Mục Berlin, Conrad von Preysing và các Giám Mục Tây Ðức ra một thư chung ngày 22-2-1943 để lên án chủ thuyết chủng tộc, bài Do Thái của Hitler. Sau Thế chiến, đại hội những người di cư Do Thái đã cử 60 đại biểu qua Lamã cám ơn Ðức Giáo Hoàng vì đã trợ giúp những người Do Thái ở Hung Gia Lợi và khắp nơi trên thế giới. Ðức Gioan XXIII sửa đổi lời cầu nguyện cho người Do Thái ngày thứ Sáu Tuần Thánh – thay vào câu: hãy cầu nguyện cho người Do Thái bất trung có từ trước, từ nay Giáo Hội cầu nguyện cho người Do Thái: "đã được Chúa mạc khải đầu tiên, để họ mạnh tiến trong tình yêu mến Danh Thánh Ngài và trung thành với Giao Ước". (Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh).

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Xin Cha cho biết phải quan niệm việc phán xét riêng như thế nào? Chỗ nào trong Phúc Âm nói đến việc ấy?

Hồng Vi, OR

Thánh Kinh không trực tiếp nói đến việc phán xét riêng. Trong khi ấy, Tân Ước đã hơn 70 lần nói đến cuộc phán xét chung khi niên cùng nguyệt tận (hết năm và tháng).

Tuy nhiên, khi đọc dụ ngôn về Lagiarô và người giàu có (Lc 16:22-23) cùng như câu truyện người trộm lành được về Thiên đàng với Chúa "hôm nay" (Lc 23:43), người ta suy luận ra rằng phải có một sự thưởng phạt ngay sau khi chết và tất nhiên phải có một sự phán xét nào đó. Và người ta gọi nó là cuộc phán xét riêng – dành riêng cho mỗi người – để phân biệt với cuộc phán xét chung cho toàn thể nhân loại, khi ngày tận thế đến. Ðó là giáo lý của Thánh Augustinô (+430) của Thánh Grêgôriô Cả (+601) và nhất là của Thánh Tôma tiến sĩ (+1274). Giáo lý ấy được Ðức Bênêđictô XII long trọng công bố khi ngài dạy rằng "linh hồn trong sạch không đợi ngày sống lại, để được thưởng trên trời cũng như kẻ dữ để bị phạt trong hoả ngục" (Denzinger). Tuy nhiên danh từ phán xét riêng không được nhắc đến trong lời công bố.

Vậy chúng ta phải quan niệm cuộc phán xét riêng ấy như thế nào? Một toà án mở ra bên cạnh người chết với sổ công và tội?

Chúng ta không thể và không nên tưởng tượng nó như thế nào. Nhưng có một điều chắc chắn là "đây là một cuộc gặp gỡ trong Tình Yêu, một cuộc gặp gỡ với chính Ðấng là Tình Yêu". Một cái gì tương tự như kinh nghiệm bản thân của Thánh Gioan Tông Ðồ trên hòn đảo Patmos: "Vừa thấy Ngài, tôi phủ phục dưới chân Ngài, chết điếng! Nhưng Ngài đặt tay trên tôi mà rằng: Ðừng sợ! Trước hết và sau hết chính là Ta. Ðấng hằng sống, Ta đã chết, và nay ta sống đời đời. Ta cầm chià khoá sự chết và âm phủ" (Khải Huyền 1:17-18).

Và trong cuộc gặp gỡ Tình Yêu ấy, chúng ta thấy sự sáng, sự sáng của Thiên Chúa và sự sáng soi vào cuộc đời dĩ vãng của ta. Và ta sẽ tự hối hận, tự phán xét hơn là Chúa phán xét, ta sẽ kêu lên: "Ðây là tình yêu bé nhỏ của tôi và đây là biển rộng của lòng thống hối" (Thánh Peguy).

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Thưa Cha, mẹ con ngày xưa rất sùng đạo đến Mùa Chay là mua sách giảng về thương khó và ngâm nga. Gần đây, con cảm thấy nhớ những cảnh thời ấy, nên cũng order sách về ngâm nga và hơi thích. Nhưng có những đoạn con sinh hồ nghi… như Chúa đi từ đinh Philatô đến Canvariô mất 1.3324 bước! 12 gại lọt vào óc… Quân lính đóng 36 lát búa! Làm sao biết được? Và lấy ở dâu?

Nguyễn Huy, CA

Việc ngắmsự thương khó là một việc cổ xưa trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, do các cha Dòng Tên bày ra để đánh động lòng sốt sắng của dân chúng. Tiếp theo là các cha Dòng Ðaminh gốc Y-Pha-Nho, một nước Công Giáo sùng một ở Tây Phương rất thích những lễ nghi rầm rộ bên ngoài. Các vị thừa sai tiên khởi ấy đã đặt ra lối ngắm "đứng" 15 sự mầu nhiệm Thương khó, phỏng theo Kinh Ðêm (Nocturne) của Sách Nhật Tụng Giáo Hội trong Mùa Tử Nạn.

Nhưng ai đã đặt ra những Kinh ngắm 15 sự ấy? Chúng tôi nghĩ rằng không thể biết đích xác được ai là tác giả, nhưng có thể nói rằng đó là một số Thừa sai và Linh Mục Việt Nam đã soạn ra bản kinh ấy dựa trên Thánh Kinh (sự Thương khó Chúa Giêsu theo Thánh Mathêô, Marcô, Luca và Gioan) và trên một số sách về "thị kiến" mạc khải của các Thánh. Chúng tôi nghĩ rằng những chi tiết về số roi đòn, nhát búa đóng đinh, số gai nhọn đâm vào đầu Chúa được lấy ở trong sách thị kiến của Bà Thánh Brigita xứ Thụy Ðiển hoặc của chị Anna Catherina Emmerich.

Bà Thánh Brigita sinh ở Thụy Ðiển (1305-1375) là một goá phụ, một vị Thánh lập Dòng và chết tại Lamã ngày 23-7-1375. Chỉ 18 năm sau ngày qua đời, bà đã được phong hiển Thánh. Lúc sinh thời, bà được ơn nói tiên tri và làm nhiều phép lạ. Bà cũng được Chúa cho thấy nhiều việc quá khứ, những thị kiến ấy Cha linh hướng của Bà đã chép lại trong sách Thần Khải (Révélations) trong đó có nhiều chi tiết về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Chị Anna Catharina Emmerich là một nữ tu Dòng Thánh Augustinô, thuộc Tu Viện Dirlmen (Ðức) cũng được nhiều thị kiến về cuộc đời Chúa Giêsu và Ðức Mẹ và đã tỏ cho ông Clément Brentano chép lại. Hai cuốn sách quan trọng hơn cả là cuốn "Cuộc Thương Khó đau thương của Chúa Giêsu" và cuốn "Cuộc đời Ðức Mẹ theo những buổi suy gẫm của chị Anna Catharina Emmerich". Chị qua đời ngày 28-7-1841. Trong hai cuốn ấy có nhiều chi tiết về cuộc tử nạn của Chúa và về đời sống Ðức Mẹ, ấn hành với phép của toà Giám Mục Limgurg (Ðức) 1858-1860 tại Ratisbonne. Tất nhiên những chi tiết ấy không buộc bạn phải tin: Ðó là những mạc khải tư nhân và trong Giáo hội những mạc khải tư riêng không thuộc về giáo lý căn bản của Ðức Tin.

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Thưa Cha Mùa Chay sắp tới, con xin hỏi Cha vì sao Giáo Hội dạy ăn chay kiêng thịt ngày thứ Tư và ngày thứ Sáu chứ không vào các ngày khác trong tuần?

V. Khải, KS

Người tín hữu có bổn phận phải lo cho sức khỏe một cách vừa phải. Ðối với họ sức khoẻ thể xác không có một giá trị tuyệt đối. Tuy nhiên, họ có bổn phận phải gìn giữ, bảo vệ, tăng trưởng để phụng sự Chúa, để vuông tròn bổn phận cá nhân cũng như gia đình. Phụng vụ có nhiều lời kinh cầu xin cho được sứ khoẻ thể xác và tinh thần.

Muốn giữ gìn sức khoẻ phải ăn uống. Nhưng luân lý Công giáo không ấn định một phép dưỡng sinh nào, một sự kiêng cữ nào.

Thánh Phaolô bênh vực sự tự do người Kitô hữu trước những đòi hỏi của Do Thái Giáo có viết: "Mọi điều Chúa dựng nên đều tốt lành không có gì phải loại bỏ nếu biết tạ ơn mà dùng" (1 Tim 4:4) hoặc (1 Cor 10:31). Nhưng "ngày đã gần kề!!… chúng ta hãy sống xứng đáng đoan trang… đừng chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng" (Rom 13:12-13), "vì nước Thiên Chúa không phải là việc ăn, việc uống" (Rom 14:17). "Vậy thì ta hãy đeo đuổi bình an và lo tài bồi cho nhau" (Rom 14:19).

Ðể đạt đến sự bình an tâm hồn ấy và dựa theo lời Chúa dạy phải ăn chay hãm mình đền tội, Giáo Hội đặt ra từ đầu thông lệ ăn chay và kiêng thịt.

Người Do Thái chỉ ăn chay mỗi năm một lần vào ngày lễ Ðền Tội (Qippoeur) như luật Moisê dạy. Những người Pharisêu thì ăn chay mỗi tuần hai lần, ngày thứ Hai và thứ Năm, như lời phân phua của người Pharisêu trong Phúc Âm "Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần" (Luc 18:12).

Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ ăn chay ngày thứ Tư và thứ Sáu để làm khác biệt người Pharisêu giả hình. Sách Didachée, một sách cổ xưa về Giáo Hội tiên khởi, tìm được năm 1875, có câu: "Ðừng ăn chay với phường kiêu ngạo. Chúng ăn chay ngày thứ Hai và thứ Năm. Anh em hãy ăn chay ngày thứ Tư và thứ Sáu" (Chương VIII, câu I). Một lời huấn dụ ám chỉ rõ ràng đoạn Phúc Âm của Mathêô, chương 6, câu 16.

Vậy Giáo Hội chọn ngày thứ Tư và thứ Sáu để ăn chay kiêng thịt để kính nhớ cuộc tử nạn của Chúa Giêsu trong ngày thứ Sáu "trước lễ vượt qua" và cũng vì những lý do lịch sử như đã nói trên.

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Con đọc trong Kinh Thánh câu này: Hễ ai không sinh lại bởi nước và Thánh Thần thì không được vào nước trời. Vậy con muốn biết những người ngoại đạo, họ không sinh lại bởi nước và Thánh Thần thì họ có được rỗi không?

Nguyễn Việt – MA

Câu trích dẫn là lời của Chúa Giêsu nói cùng Nicôđimô: "Quả thật, quả thật, tôi bảo ông, ai không sinh bởi nước và Thánh Linh thì không thể vào được Nước Thiên Chúa" (Gioan 3:5). Chúa ám chỉ một cuộc tái sinh thiêng liêng một cuộc tạo dựng mới do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Lúc khởi thủy thế giới và vật chất xuất hiện từ khối nước trên do Thần Khí Thiên Chúa bay lượn (Gen 1:1) thì nay nhân loại cũng được tái sinh, trong cuộc sống thiêng liêng nhờ nước phép rửa tội và Chúa Thánh Thần (Gioan 3:5). Vậy, những người không được biết Chúa, không được ơn Rửa tội, có được cứu rỗi không?

Công đồng Vaticanô II tuyên bố: "Vì Chúa Kitô đã chịu chết cho hết mọi người và tất cả mọi người được mời gọi trở nên con Chúa, nên chúng ta phải tin chắc rằng, bằng một cách nào đó chỉ có Chúa biết, Thánh Thần Thiên Chúa cũng ban cho hết mọi người phương thế để thông phần mầu nhiệm phục sinh".

Phương thế ấy là gì? Theo các nhà thần học là một ý thức làm lành lánh dữ. Hay nói cách khác là sống theo lương tâm của mình. Thiên Chúa không đòi hỏi ở họ cái gì khác ngoài việc làm theo tiếng nói của lương tâm. Ðối với họ, lương tâm là sự thật "Ai theo sự thật là tìm thấy ánh sáng" (Gioan 3:21). Ðể vào nước trời, chỉ có một cửa chính là phép Bí Tích Rửa Tội, nhưng Thần Linh Thiên Chúa "như một luồng gió" (Gioan 3:8) có thể đưa vào bằng những kẽ hở khác vậy.

Giáo lý ấy phản ảnh lời giảng dạy của Thánh Phaolô khi ngài viết: "Vì không phải hễ nghe luật là công chính, trước mặt Thiên Chúa, song giữ Luật mới nên công chính. Vì thứ dân ngoại không có Luật, nhưng theo lương năng mà làm những điều Luật dạy, thì họ những kẻ không có Luật, họ là luật cho chính họ. Những người như thế cho thấy rằng việc Luật dạy đã được viết trong lòng họ. Khi mà lương tâm họ hoạ theo làm chứng và những suy tính nảy lên mà cáo tội hay biện hộ cho nhau" (Rom 2:13-15).

Back to Top Back to Top


Hỏi :  Thưa Cha, xin Cha cho biết vì sao Mình Thánh Chúa lại được giữ trong nhà tạm và nhà tạm lại để bên bàn thờ cạnh, không để ở giữa. Nếu đặt ở giữa, phải chăng bàn thờ Mình Thánh Chúa sẽ được chú ý và tôn thờ hơn.

Quang Long, Dallas

Theo lịch sử Phụng vụ thì việc giữ Mình Thánh Chúa trong nhà tạm trước tiên là để dành cho người bệnh nhân, như "của ăn đàng" khi cần thiết. Theo Công đồng thì Giáo hội tiếp tục giữ Mình Thánh Chúa trong nhà thờ với mục đích nói lên sự hiện diện của Chúa Kitô giữa dân Ngài, để cho dân Chúa thờ lạy và cảm tạ. Sự hiện diện của Chúa cũng là sứ mạng phục vụ dân Chúa (Sắc lệnh về Chức vụ và Ðời sống Linh mục, số 5-18). Việc lưu giữ Mình Thánh Chúa có một quá trình lịch sử hi hữu, mà chúng tôi hiến độc giả sau đây theo một chuyên viên Phụng vụ, Cha Dom Guy Oury dòng Biển Ðức, trong các nét đại cương.

Trong ba thế kỷ đầu: Thánh Justinô (165) đã mô tả cuộc hội họp ngày Chủ nhật như là "một cuộc chia sẻ các vật thánh cho mỗi người và những người vắng mặt được các vị phó tế mang đến tận nhà".

Vào thế kỷ III, các linh mục lưu giữ Mình Thánh Chúa tại nhà và cả giáo dân nữa cũng được vinh dự ấy. Thánh Hippolyte (thế kỷ 3) viết: "Mỗi người phải ý thức đừng để cho người ngoại đạo ăn bánh thánh, hoặc chuột hay con vật khác gậm, Mình Thánh được cất trong tủ. Không được để cho mất mát hoặc rơi xuống đất, vì đây là Mình Chúa Kitô, không được khinh dể. Ðây là của ăn người tín hữu". Giáo phụ Tertullien khuyên đừng lập hôn nhân với người khác đạo: "Chồng bà không được biết bà ăn gì một cách âm thầm trước khi dùng một của ăn khác. Nếu ông biết bánh ấy, ông sẽ không tin nếu bà nói sự thật" (Ad uaeorel liber II c. 4). Thánh Thể được lưu giữ trong một chiếc hộp mỹ thuật cất trong tủ. Nếu trong gia đình chỉ có một người đã chịu phép Rửa tội duy nhất thì người ấy mang Mình Thánh trong một túi nhỏ trên ngực. Thánh Damase (384) trong một bài văn đã ca ngợi Thánh Tarcisius là "đã thí mạng sống hơn là trao Mình Thánh cho bầy chó dại".

Sau nghị định của Constaninô năm 313, hoà bình đã trở về trong Giáo hội thì Mình Thánh Chúa lại trở về trong nhà thờ, nhưng được đặt một nơi riêng dành cho người đã được rửa tội, tân tòng chuẩn bị thanh tẩy không được tham dự. Mình Thánh Chúa được đặt trong một "nhà tạm" có hình chiếc tháp trên có hình chim câu bay trong một chiếc bình có hình chim câu treo trên bàn thờ. Trong các cuộc du hành, Mình Thánh cũng được mang theo. Khi Ðức Giáo Hoàng xuật hành, Mình Thánh được mang theo trong một chiếc hộp vàng, dưới một phương du, đặt trên con ngựa trắng được trang sức lộng lẫy.

Từ thế kỷ thứ VIII, Mình Thánh được đặt trên bàn thờ trong một nhà tạm vững chắc. Giáo luật ấn định thể thức, Nhà tạm phải bất di bất dịch (G.L. số 938) – Phải có một chiếc đèn chầu ngày đêm thắp sáng (G.L. số 940). Sắc lệnh ngày 1-6-1957 qui định bàn thờ giữ Mình Thánh phải ở ngoài bàn thờ chính, trong nhà nguyện Thánh Thể.

Back to Top Back to Top


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com